Nhảy đến nội dung

Thơ Phúc Âm Tuần ngày 18/1 tới ngày 24/1, 2026

THƠ PHÚC ÂM TUẦN NGÀY 18/1 TỚI NGÀY 24/1, 2026

 

Chủ nhật 18/01/2026

Chúa nhật II Thường niên Năm A

PHS Suy niệm  Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gioan.    Ga 1, 29-34

 

Chiên Thiên Chúa

Bên sông Giođan sáng trong,
Gioan rửa tội, nguyện mong ơn Trời.
Chúa đi tới giữa bao người,
Hiền hòa ánh mắt, rạng ngời tình thương.

Gioan chỉ Chúa giữa đường,
Kêu vang lời chứng, phi thường nhiệm thay:
“Chiên Thiên Chúa đó, đây này,
Đấng xóa tội thế, cứu ai khổ sầu.

Người đến sau, trọng trước đâu,
Vì xưa đã có, trước màu nhân sinh.
Tôi rửa nước thế nhân tình,
Cho Ngài tỏ hiện ơn linh cứu đời.”

Thánh Thần như cánh bồ trời,
Từ mây ngự xuống, giữa nơi sông ngàn.
Ngự trên Con Chúa vinh quang,
Bao la thánh ái, dịu dàng ân thiêng.

Gioan nhận biết thật riêng,
Người là Con Chúa, quyền thiêng nhiệm mầu.
Lòng ông bừng sáng trước sau,
Lời vang khắp chốn: “Chiên đâu, chính Người!”

Tội trần gian, Chúa gánh thay,
Xóa bao khổ ải, cho ngày hồi sinh.
Tình Cha trải khắp nhân linh,
Chiên Con cứu độ, phục sinh cõi đời.

 

==

In  French:

 

L’Agneau de Dieu

Au bord du fleuve, clair et pur,
Jean prêche au peuple sans murmure.
Sous le soleil du Saint matin,
Descend le Christ, chemin divin.

Jean lève alors son cœur fervent,
Et crie au monde, plein d’élan :
« Voici l’Agneau, don de lumière,
Qui ôte au monde sa misère.

Lui qui vient après, fut premier,
Avant le temps, avant l’été.
Je baptisais d’eau, humblement,
Pour qu’Il paraisse aux cœurs tremblants.

J’ai vu l’Esprit du ciel descendre,
Comme colombe douce et tendre,
Venir se poser sur le Fils,
Vêtu d’éternelle justice.

Et Celui qui m’a envoyé
Me dit : “Sur qui l’Esprit va se poser,
Lui baptisera du Saint Souffle,
Pour que la vie du Ciel s’embouche.”

Alors je sais, je peux le dire,
C’est Lui, le Fils, l’Éternel Sire.
Voici l’Agneau, l’Amour parfait,
Que Dieu nous donne à tout jamais.

Il porte au cœur nos lourds chemins,
Lave nos fautes de Ses mains.
Sous Son regard doux et vainqueur,
Le monde renaît dans Son cœur.

==

In English

 

The Lamb of God

Beside the Jordan’s shining flow,
Where desert winds in silence blow,
John preached of truth, repentant tears,
And hearts long bound by guilty years.

Then Jesus came, so calm, so mild,
The Spirit’s light upon Him smiled.
John saw, and cried with trembling voice:
“Behold the Lamb! Rejoice, rejoice!

He is the One I spoke of then,
Who was before all mortal men.
Though He comes after, higher stands,
The Word made flesh by God’s own hands.

I did not know His form divine,
Till Heaven gave this holy sign:
The Spirit came, a dove of white,
And rested on His brow of light.

And He who sent me spoke to say,
‘When you shall see this sign displayed,
On Him the Holy Breath remains—
He’ll cleanse the world of all its stains.’

Now I have seen, and so I cry:
This is God’s Son, the Lord Most High!
The Lamb who bears the weight of sin,
To make the broken whole again.

He takes our guilt, our shame, our pain,
And brings us peace through love’s domain.
Through Him new life and hope are found,
The world redeemed, the lost unbound.

 

===

 

Tin Mừng ngày hôm nay

 

"Ðây Chiên Thiên Chúa, đây Ðấng xoá tội trần gian".

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gioan.    Ga 1, 29-34

 

Khi ấy, ông Gioan thấy Chúa Giêsu tiến về phía mình liền nói: "Ðây Chiên Thiên Chúa, đây Ðấng xoá tội trần gian. Này tôi đã nói về Ngài: Một người đến sau tôi, nhưng đã có trước tôi, vì Ngài cao trọng hơn tôi. Và tôi, tôi đã không biết Ngài, nhưng để Ngài được tỏ mình ra với Israel, nên tôi đã đến làm phép rửa trong nước". Và Gioan đã làm chứng rằng: "Tôi đã thấy Thánh Thần như chim bồ câu từ trời đáp xuống và ngự trên Ngài. Về phần tôi, tôi đã không biết Ngài. Nhưng Ðấng sai tôi làm phép rửa trong nước phán bảo tôi: "Ngươi thấy Thánh Thần ngự xuống trên ai, thì đó chính là Ðấng làm phép rửa trong Chúa Thánh Thần". Tôi đã thấy và tôi làm chứng: chính Ngài là Con Thiên Chúa".

 

==

Thứ hai 19/01/2026

 

Thứ Hai II Thường niên Năm A

PHS Suy niệm  Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Marcô.     Mc 2, 18-22

Tân Lang Giữa Mọi Người

Môn đồ hỏi Chúa một lời,
“Sao không ăn chay, khi đời khổ đau?”
Người rằng: “Hãy hiểu nhiệm mầu,
Tân lang còn đó, vui đâu thể buồn.

Bao lâu Thầy ở chung muôn,
Thì lòng phải rộn, phải tròn niềm vui.
Ngày kia Tân Lang rời lui,
Khi ấy mới khóc, ngậm ngùi ăn chay.

Áo cũ chẳng vá vải gai,
Vá bằng vải mới, rách ngay thêm mà.
Rượu tân đổ bầu da già,
Bầu tan, rượu đổ, phí hoa phúc lành.

Rượu tươi phải rót mát lành,
Vào bầu tâm mới, lòng thành đón tin.
Vui khi có Chúa ở gần,
Tình yêu cứu độ kết thân muôn trùng.

Ngày kia Người khuất mịt mùng,
Lòng người thương nhớ, ăn chay nguyện cầu.
Tân Lang nay vẫn nhiệm mầu,
Ngự trong Thánh Thể, phủ sâu ân tình.

Giêsu, nguồn phúc quang minh,
Cho rượu mới chảy ân sinh muôn đời.
Ai đem tâm cũ đổi rời,
Sẽ nghe lời Chúa – sáng ngời niềm tin.

 

==

In  French:

 

L’Époux Parmi Les Siens

Les disciples de Jean s’avancent,
Le cœur serré, pleins de silence :
« Pourquoi Tes frères, Tes amis,
Ne jeûnent-ils point aujourd’hui ? »

Alors le Maître leur révèle,
Une parole douce et belle :
« Quand l’Époux vit parmi les siens,
Peut-on pleurer le pain des liens ?

Tant que l’Époux reste à la fête,
La joie circule, pure et parfaite.
Mais viendra l’heure où, en secret,
L’Époux leur sera enlevé.

Alors viendra le vrai jeûne,
Le cri du cœur, la peine brune. »

Puis Il leur dit, en parabole :
« N’allez pas, dans vos vieux symboles,

Vêtir d’un tissu neuf l’ancien,
Car le vêtement craque soudain.

Et nul ne verse un vin nouveau
Dans un vieux cuir plein de maux.

Le vin s’épand, la peau se rompt,
Et tout s’en va, le bien, le don.

Mais le vin frais du Ciel si pur,
Demande un cœur neuf et mûr.

Ainsi la joie, quand Dieu s’y joint,
Fait l’âme neuve, et tout devient. »

Sous le regard du Fils vivant,
La Loi se change en doux printemps.
Car l’Époux saint, plein de lumière,
Fait de la foi une prière.

==

In English

 

The Bridegroom Among Them

The followers of John drew near,
With Pharisees who watched severe:
“Why do Your friends not fast today,
As we and others walk that way?”

Then Jesus spoke with tender grace,
A light of peace upon His face:
“Can wedding guests in mourning be,
While with them dwells the bridegroom’s glee?

As long as He is in their sight,
Their hearts rejoice in love’s pure light.
But days will come when He is gone—
Then tears will fall, and fasts be drawn.

None sews new cloth on garments old,
Lest seams should tear, the fabric fold.
New wine into old skins—no more!
It bursts, and both are lost therefore.

But new wine must in new hearts flow,
Where faith and love together grow.
For joy abides where Christ is near,
And heaven’s light makes all things clear.

He is the Bridegroom, pure and kind,
Who heals the darkness of mankind.
In Him, the feast of life is found,
Where mercy’s song and grace abound.

===

 

Tin Mừng ngày hôm nay

 

"Tân lang còn ở với họ".

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Marcô.    Mc 2, 18-22     

 

Khi ấy, môn đồ của Gioan và các người biệt phái ăn chay, họ đến nói với Chúa Giêsu rằng: "Tại sao môn đồ của Gioan và các người biệt phái ăn chay, còn môn đồ Ngài lại không ăn chay?" Chúa Giêsu nói với họ: "Các khách dự tiệc cưới có thể ăn chay khi tân lang còn ở với họ không? Bao lâu tân lang còn ở với họ, thì họ không thể ăn chay được. Nhưng sẽ đến ngày tân lang bị đem đi, bấy giờ họ sẽ ăn chay. Không ai lấy vải mới mà vá áo cũ, chẳng vậy, miếng vải vá sẽ rút lại mà kéo áo cũ, và chỗ rách lại tệ hơn. Cũng không ai đổ rượu mới vào bầu da cũ, chẳng vậy, rượu sẽ làm vỡ bầu da, và rượu đổ, bầu da hư. Nhưng rượu mới phải để trong bầu da mới"

==

 

Thứ ba 20/01/2026

 

Thứ Ba II Thường niên Năm A

Thánh Fabianô, Giáo hoàng, Tử đạo (Đ). Thánh Sêbastianô, Tử đạo (Đ)

 

PHS Suy niệm  Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Marcô.     Mc 2, 23-28

 

Ngày Sabbat Cho Người

Một ngày Sabbat đẹp trời,
Giêsu cùng các môn rời đồng xanh.
Gió đùa hạt lúa rung cành,
Môn đồ bứt hạt, an lành trên tay.

Biệt phái thấy thế liền thay,
Nói: “Sao vi phạm luật này, Giêsu?”
Người thương đáp chẳng hồ nghi,
Kể Đavít chuyện xưa khi khốn cùng.

“Ngày kia, đói khát lạnh lùng,
Ngài ăn bánh thánh, theo cùng cận thân.
Vì lòng Cha chẳng sao ngăn,
Lấy tình nuôi sống xác hồn con thôi.”

Ánh nhìn Chúa dịu mà vui,
Lời vang như gió, chạm nơi cội lòng:
“Sabbat dựng tạo nên trong
Ân tình Thiên Chúa, cho mong an bình.

Ngày ấy chẳng trói rập hình,
Nhưng là để Chúa thương sinh phúc lành.
Người vì hạnh phúc mà thành,
Chứ đâu vì luật mà sanh khổ sầu.

Con Người là Chúa nhiệm mầu,
Làm chủ ngày thánh, ban âu yếm đời.
Sabbat – quà tặng tuyệt vời,
Cho tâm nghỉ ngơi, cho người bình an.”

==

In  French:

 

Le Sabbat pour l’Homme

C’était un jour de paix, de blé,
Le vent jouait, doux et léger.
Jésus marchait, le cœur serein,
Ses disciples cueillaient du grain.

Les pharisiens, pleins de rigueur,
Dirent : « Regarde, ô grand docteur,
Pourquoi font-ils ce qui n’est pas
Permis le jour du saint sabbat ? »

Alors le Maître, plein de flamme,
Le regard clair, empli de calme,
Leur rappela, au fil du temps,
L’acte de David, l’innocent.

« Affamé fut-il, et les siens,
Ils goûtèrent le pain divin.
Ce pain sacré, qu’un seul mangeait,
Mais Dieu vit faim et pardonnait. »

Puis Jésus dit, d’un ton humain,
Que tout venait du cœur divin :
« Le sabbat fut fait pour l’humain,
Non pas l’humain pour ce festin.

Et le Fils de l’Homme, en gloire,
Est maître du sabbat, mémoire.
Car Dieu n’impose point la loi,
Mais offre un jour de paix et foi. »

Ainsi la grâce sur ce champ
Fit refleurir les cœurs d’enfant.
Le blé doré, doux témoignage,
Chantait l’amour sans esclavage.

==

In English

 

The Sabbath for Mankind

It was a day of golden grain,
The breeze was soft, the fields lay plain.
Christ walked with peace along the way,
His friends plucked heads of wheat that day.

The Pharisees, with watchful eyes,
Said, “Why break laws the Lord supplies?
For this is Sabbath — sacred time,
Why do your men commit such crime?”

Then Jesus spoke with gentle tone,
A voice like truth from Heaven’s throne:
“Have you not read of David, when
He fed his need, and those with him?

In hunger’s hour, his hands did take
The holy bread for mercy’s sake.
The law was made to bless, not bind,
To feed the soul and free the mind.

The Sabbath came to serve mankind,
Not man to serve the day confined.
And I, the Son of Man, declare,
O’er Sabbath, too, I hold all care.”

He smiled; the wind through wheat replied,
God’s peace restored, with hearts untied.
For law and love in Christ agree —
The heart finds rest, the soul is free.

===

 

Tin Mừng ngày hôm nay

 

"Ngày Sabbat làm ra vì loài người, chứ không phải loài người vì ngày Sabbat".

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Marcô.    Mc 2, 23-28     

 

Vào một ngày Sabbat, Chúa Giêsu đi qua đồng lúa, môn đệ Người vừa đi vừa bứt lúa. Tức thì những người biệt phái thưa Người rằng: "Kìa Thầy xem. Tại sao ngày Sabbat người ta làm điều không được phép như vậy?" Người trả lời rằng: "Các ông chưa bao giờ đọc thấy điều mà Ðavít đã làm khi ngài và các cận vệ phải túng cực và bị đói ư? Người đã vào nhà Chúa thời thượng tế Abiata thế nào, và đã ăn bánh dâng trên bàn thờ mà chỉ mình thượng tế được ăn, và đã cho cả các cận vệ cùng ăn thế nào?" Và Người bảo họ rằng: "Ngày Sabbat làm ra vì loài người, chứ không phải loài người vì ngày Sabbat; cho nên Con Người cũng làm chủ cả ngày Sabbat".

==

Thứ tư 21/01/2026

 

Thứ tư II Thường niên Năm A

Thánh Anee, Trinh nữ, Tử đạo

 

PHS Suy niệm  Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Marcô.     Mc 3, 1-6

 

Ngày Sabbat Của Tình Thương

Giêsu lại đến hội đường,
Người tay bại đó đứng buồn bên hiên.
Nhìn quanh, biệt phái ưu phiền,
Rình xem Người chữa trong miền Sabbat.

Chúa phán: “Ngươi hãy đứng ra,
Giữa bao con mắt dò tà chẳng quên.
Ngày thánh, được phép làm nên
Điều lành hay ác, cứu bên hay giết?”

Câu hỏi vang giữa tịch liêu,
Mà bao lòng đá, chẳng điều đáp Chúa.
Người nhìn buồn giữa muôn thưa,
Giận thương nhân thế, lòng xơ cỗi rồi.

Chúa truyền dịu tiếng êm đôi:
“Giơ tay ra hỡi con người khổ đau.”
Tức thì tay ấy nhiệm mầu,
Hồi sinh sức sống, đượm màu yêu thương.

Người ta, thay mến, lại vương,
Hận thù nhóm dậy trong đường tối tăm.
Họ bàn mưu hại âm thầm,
Hồn chai cứng giữa trăm năm lạnh lùng.

Nhưng Lời Cứu Độ bao dung,
Dù ai tìm diệt, vẫn cùng yêu thôi.
Ngày Sabbat sáng trên đời,
Cho muôn tội lỗi, Chúa mời trở nên.

Tình thương vượt mọi giới ranh,
Cứu người là Thánh, là danh muôn đời.
Sabbat chẳng trói luật vời,
Mà gieo ơn sống, cho người tìm Cha.

==

In  French:

 

Le Sabbat du Cœur

Jésus entra dans la maison,
Où priait le peuple en union.
Un homme, la main desséchée,
Restait, tremblant, dans la durée.

Les pharisiens, d’un œil caché,
Veillaient sur Lui, froids et penchés :
« Guérira-t-Il, ce jour sacré ?
Alors, nous pourrons L’accuser. »

Mais le Seigneur, plein de tendresse,
Appelle l’homme en sa détresse :
« Viens, tiens-toi droit, au milieu d’eux,
Et montre-toi sans peur, sans vœu. »

Puis Il leur dit, sa voix est claire :
« Ce saint jour, quel est le mystère ?
Servir le bien ou bien le mal,
Sauver la vie, ou faire mal ? »

Silence lourd, cœurs sans écho,
L’ombre s’étend sur le repos.
Le Christ regarde, la douleur,
D’un Dieu qui pleure dans les cœurs.

« Étends ta main ! » — douce parole,
Et la main vit, la main s’envole.
La gloire du Père vint surgir,
La peur céda devant le rire.

Mais les esprits durs et jaloux,
Sortirent, ourdissant leur courroux.
Ils complotèrent contre Lui,
L’Amour vaincu aux yeux du bruit

.

Pourtant en Lui brûle sans fin
La loi d’amour, la loi sans fin :
Car le Sabbat, don de la Vie,
Souffle et guérit, au nom Marie.

==

In English

 

The Sabbath of the Heart

Within the temple’s hallowed air,
Christ entered, calm, with tender care.
There stood a man with lifeless hand,
His eyes downcast, unable to stand.

The watching scribes, with hearts of stone,
Observed His deeds to find their own.
“Will He now heal — on holy day?
We’ll catch His words, condemn His way.”

But Jesus, moved by mercy’s call,
Said, “Step forth, stand before them all.”
And turning toward their silent pride,
He spoke the truth they long denied:

“On Sabbath, tell Me, men of creed —
To save a life, or watch it bleed?
To do the good, or do the wrong —
Which honors God, to whom belongs?”

No voice replied, the silence deep,
Their hardened hearts refused to weep.
Christ’s eyes grew sorrowed, filled with flame,
For love denied in law’s cold name.

He said, “Reach out your hand to Me.”
And strength returned immediately.
The man stood whole — God’s power shown,
While grace outshone the heart of stone.

But envy’s seed began to grow;
They left to scheme in shadows low.
Still Love endured, though hatred lies,
For mercy never truly dies.

The Sabbath lives in hearts made new,
Where kindness reigns and faith is true.
For love fulfills the law divine —
And healing proves God’s grand design.

===

Tin Mừng ngày hôm nay

 

"Trong ngày Sabbat được cứu sống hay là giết chết?"

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Marcô.    Mc 3, 1-6         

 

Khi ấy, Chúa Giêsu lại vào hội đường và ở đó có một người khô bại một tay. Người ta để ý quan sát xem Chúa có chữa bệnh trong ngày Sabbat không, để tố cáo Người. Chúa bảo người có tay khô bại rằng: "Ngươi hãy đứng ra giữa đây". Rồi Người bảo họ: "Trong ngày Sabbat được làm sự lành hay sự dữ? Ðược cứu sống hay là giết chết?" Nhưng họ thinh lặng. Bấy giờ Người thịnh nộ đưa mắt nhìn họ và buồn phiền vì lòng họ chai đá, Người bảo bệnh nhân rằng: "Hãy giơ tay ra". Người đó giơ tay ra và tay anh ta được lành. Lập tức, những người biệt phái đi ra bàn tính với những kẻ thuộc phái Hêrôđê chống đối Người và tìm cách hại Người.

==

Thứ năm 22/01/2026

 

Thứ năm II Thường niên Năm A

Thánh Vinh Sơn, phó tế, Tử đạo

 

PHS Suy niệm  Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Marcô.   Mc 3, 7-12

 

Con Thiên Chúa Hiển Linh

Giêsu lui bước bên khơi,
Dân theo đông đảo khắp nơi kéo về.
Galilê sáng tràn mê,
Giuđê, Giêrút rộ về kính yêu.

Idumê đến sớm chiều,
Bên kia Giođan, Siđon, Tyrô.
Nghe danh Người chữa nhiệm mầu,
Tật nguyền tan biến, sầu đau hóa bình.

Người dạy môn đệ tận tình,
Sắm thuyền kẻo chúng chen quanh chật người.
Ai đau cũng muốn đến cười,
Cầu ơn chạm Chúa — sáng tươi phận đời.

Thần ô uế gặp đến Người,
Liền run, sụp lạy giữa trời thinh không.
Rền vang tiếng nói hãi hùng:
“Ngài là Con Chúa, quyền không ai bằng!”

Nhưng Người nghiêm cấm cậy năng,
Không cho tiết lộ mầu thâm Cha Trời.
Thời chưa đến, ánh chưa soi,
Tình yêu ẩn giữa đất trời vì nhân.

Người đi gieo hạt ân cần,
Quyền năng cứu rỗi, lòng nhân vô cùng.
Ai tin, ai hướng tâm trong,
Sẽ nghe Con Chúa — đức trung sáng ngời.

==

In  French:

 

Le Fils de Dieu révélé

Sur le rivage, au vent du large,
Jésus s’avance, calme et sage.
Les foules viennent de tout lieu,
Cherchant la paix, cherchant leur Dieu.

De Galilée jusqu’à Judée,
De Tyr, de Sidon, foule pressée,
Tous approchent, dans leur douleur,
Pour frôler l’Amour, le Sauveur.

Les malades, leurs mains tendues,
Touchent la grâce, l’âme émue.
Chaque blessure, chaque cœur,
Renaît vivant sous Sa lueur.

Alors les esprits, pleins de crainte,
Se jettent aux pieds du Saint, sans feinte :
« Tu es le Fils du Dieu vivant,
Le Tout-Puissant, le Bienveillant ! »

Mais Lui, dans calme souverain,
Leur interdit d’ouvrir le secret divin.
Car le mystère, au temps voulu,
Sera connu, sera vécu.

Il va, semant l’amour sans fin,
Tressant la foi sur le chemin.
Et sous Ses pas, la terre croit :
Dieu vient régner par Sa foi.

==

In English

 

The Son of God Revealed

Along the shore, by waters wide,
Christ walked, as crowds pressed close beside.
From Galilee to Judah’s land,
They came to seek His healing hand.

From Tyre, from Sidon, hearts drew near,
For love had cast out every fear.
The sick reached forth in trembling grace,
Just to behold His holy face.

And by His touch, their wounds were healed,
Their pain and sorrow all unsealed.
Each soul once bound by flesh and grief
Found in His word divine relief.

But demons saw—and shook with dread,
Before the Son of God they pled:
“You are the Christ, the Chosen One,
The Holy Light, God’s only Son!”

Yet Jesus spoke with firm command,
And silence fell across the land.
He bade them hold the truth untold,
Till hearts were ready, brave and bold.

Still onward walked the Lord of Peace,
Whose mercy makes all anguish cease.
Through every step, through night and day,
Love’s power shone, Heaven’s way.

===

 

Tin Mừng ngày hôm nay

 

"Các thần ô uế vừa thấy Người, liền sụp lạy và kêu lên rằng: "Ngài là Con Thiên Chúa", nhưng Người nghiêm cấm chúng không được tiết lộ gì về Người".

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Marcô.    Mc 3, 7-12       

 

Khi ấy, Chúa Giêsu cùng các môn đệ lui về bờ biển, đám đông từ Galilêa theo Người, và từ Giuđêa, Giêrusalem, Iđumê, bên kia sông Giođan, miền Tyrô và Siđon, nhiều kẻ đến cùng Người, khi nghe biết tất cả những việc Người đã làm. Vì đông dân chúng, nên Người bảo các môn đệ liệu cho Người một chiếc thuyền, kẻo họ chen lấn Người. Vì chưng, Người đã chữa lành nhiều bệnh nhân, nên bất cứ ai mắc bệnh tật gì đều đến gần để động đến Người. Và những thần ô uế vừa thấy Người, liền sụp lạy và kêu lên rằng: "Ngài là Con Thiên Chúa", nhưng Người nghiêm cấm chúng không được tiết lộ gì về Người.

==

Thứ sáu 23/01/2026

Thứ sáu II Thường niên Năm A

 

PHS Suy niệm  Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Marcô.  Mc 3, 13-19

 

Tiếng Gọi Trên Núi Cao

Giêsu lên núi thanh tao,
Gọi ai yêu mến theo vào nẻo thiêng.
Người kêu – tiếng Chúa dịu hiền,
Gọi ai thì kẻ ấy liền bước ra.

Họ đến với Chúa chan hòa,
Ở cùng Người mãi, đậm đà niềm tin.
Người trao sứ mạng hy sinh,
Sai đi rao giảng ân linh cứu đời.

Trao quyền trừ ác ma ơi,
Xua tan bóng tối dậy khơi sáng ngời.
Mười hai Tông Đồ chọn thời,
Simon – Phêrô đầu nơi đức hằng.

Gia-cô-bê, Gio-an rằng,
Con sấm sét Chúa yêu thầm nồng say.
Anrê theo bước tháng ngày,
Philip, Bartô nở nụ cười tin.

Matthêu lòng sáng bình yên,
Tôma đối hỏi, vững niềm đức tin.
Gia-cô-bê của Alphê,
Tađêô hiền hậu, vị Thầy mến thương.

Simon Nhiệt Tâm kiên cường,
Giuđa phản bội, đoạn trường đêm đau.
Tình thương Chúa vẫn dạt dào,
Kêu ai thì kẻ ấy vào lòng Cha.

Hôm nay nghe tiếng gọi xa,
Tín nhân đáp lại: “Lạy Cha, con vâng!”
Ở cùng Thiên Chúa chí nhân,
Đời ta thành chứng chân thân giữa đời.

==

In  French:

 

L’Appel sur la Montagne

Jésus monta sur la hauteur,
Là où le vent portait son cœur.
Du sein du ciel, l’écho profond
Appela ceux qu’Il aimait fond.

Il dit leur nom, d’une voix claire,
Et tous vinrent, heureux de plaire.
Pour être avec Lui, jour et nuit,
Ils quittent tout, Le suivent, épris.

Il leur confie sainte mission :
Porter la paix, la guérison,
Chasser l’esprit qui fait le mal,
Et semer l’amour filial.

Simon devint Pierre, le roc,
Sur qui la foi brava le choc.
Jacques et Jean, fils de tonnerre,
Rayonnent flamme et lumière.

André s’avance, doux témoin,
Philippe prie, le front serein.
Barthélemy, cœur de lumière,
Matthieu, pécheur à l’âme fière.

Thomas, qui doute, mais s’abandonne,
Jacques, fils d’Alphée, s’y donne.
Thaddée, Simon le zélé,
Et Judas, sombre, isolé.

Mais malgré l’ombre, l’amour brille,
Jésus pardonne, et tout scintille.
Ceux qu’Il appelle, en tout pays,
Portent Son nom, Son feu, Sa vie.

Et jusqu’à nous l’écho résonne :
« Viens, suis le Christ — Il t’appelle, Il te donne. »
Être avec Lui, c’est être enfant,
Du Dieu vivant, du Tout-Puissant.

==

In English

===

 

Tin Mừng ngày hôm nay

 

"Người gọi những kẻ Người muốn gọi để họ ở cùng Người".

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Marcô.    Mc 3, 20-21     

 

Khi ấy, Chúa Giêsu lên núi và gọi những kẻ Người muốn gọi, và họ đến cùng Người. Người chọn mười hai vị để theo Người, và sai các ông đi giảng và ban cho các ông quyền trừ quỷ. Mười hai vị ấy là: Simon mà Người đặt tên là Phêrô, Giacôbê con ông Giêbêđê, và Gioan là em Giacôbê, (cả hai được Người đặt tên là Boanerges, nghĩa là con của sấm sét), rồi đến Anrê, Philipphê, Bartôlômêô, Matthêu, Tôma, Giacôbê con ông Alphê, Tađêô, Simon nhiệt tâm, và Giuđa Iscariô là kẻ nộp Người.

==

Thứ bảy 24/01/2026

Thứ bảy II Thường niên Năm A

 

Thánh Phan-xi-cô Sa-lê-si-ô, Giám mục, Tiến sĩ Hội Thánh

 

PHS Suy niệm  Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Marcô.  Mc 3, 20-21

 

Tình Yêu Bị Hiểu Lầm

Giêsu trở lại mái nhà,
Dân đông chen chật, chan hòa tìm nghe.
Lời Người thắp sáng đêm che,
Chữa bao bệnh tật, lắng nghe nỗi sầu.

Thân nhân nghe chuyện nặng màu,
Vội toan ngăn Chúa, loâu nghi sai lầm.
Bảo rằng Người đã lạc tâm,
Chưa hay Tình Chúa sâu thẳm vô biên.

Người mang sứ mạng nhân hiền,
Đem ơn cứu độ trải miền trần gian.
Cơm chưa dùng, bước chưa an,
Vì thương dân chúng, lòng tràn xót xa.

Ai rằng Chúa đã hóa ra
Mất trí — nào biết sâu xa nhiệm mầu.
Trí trong Tình Chúa cao sâu,
Hiến thân vì kẻ khổ đau, tội đầy.

Thế gian chẳng hiểu đường này,
Lời yêu thành lạ, việc hay hóa buồn.
Nhưng trong ánh mắt dịu muôn,
Có Cha cùng thấu tình thương tuyệt vời.

Người gieo lời sống muôn nơi,
Đem yêu thương chạm đến đời tối tăm.
Dù ai hiểu lạc, sai nhầm,
Tình Cha vẫn sáng, muôn năm chẳng mờ.

==

In  French:

 

L’Amour Méconnu

Jésus rentra dans la maison,
Le peuple accourut à foison.
Tellement d’âmes sous Son regard,
Qu’Il n’avait même plus de repas.

Sa Parole, douce et lumineuse,
Guérissait l’ombre malheureuse.
Mais Ses parents, troublés d’effroi,
Disent : « Il a perdu la foi ! »

Ils croyaient l’Amour devenu fou,
Ne voyant pas le Ciel si doux.
Car l’homme juge, sans comprendre,
Ce cœur venu pour tout répandre.

Le Fils brûlait de charité,
Son pain, c’était l’humanité.
Il n’écoutait ni faim ni soif,
Pour relever ceux qu’on déçoit.

Qu’est donc la “folie de Dieu”,
Sinon l’Amour plus grand que peu ?
Folie qui guérit, qui relève,
Et donne vie là où s’achève.

Tandis que le monde condamnait,
Le cœur divin pardonnait.
Sous Son regard, plein de tendresse,
Même l’erreur devient promesse.

Et ceux qui rient de Son ardeur,
Ne sentent pas la profondeur.
Car Dieu préfère, dans Son flamme,
Être “fou” d’amour — pour l’âme.

==

In English

 

Love Misunderstood

Back home again, the Savior came,
And crowds around Him spoke His name.
So many pressed from near and far,
He could not eat beneath that star.

His words poured forth with healing grace,
Light shone from every wounded place.
Yet those once closest to His side
Said, “He has lost His sense, His guide.”

They thought Him mad, His reason gone,
Not seeing Heaven’s fire upon.
For love so vast, so pure, so deep,
The world mistook as folly’s leap.

He bore no care for rest or bread,
His will to serve all souls instead.
The broken first, the lost, the small —
He gave His heart, He gave it all.

Oh, what men deem as madness wild,
Is Heaven’s mercy, meek and mild.
God’s ways confound the heart of man,
Yet save us by His sacred plan.

So let them say what they may see,
For Love is wisdom’s mystery.
Christ’s “holy madness” still shall prove
The world is healed through boundless love.

===

 

Tin Mừng ngày hôm nay

 

"Những thân nhân của Người nói: Người đã mất trí".

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Marcô.    Mc 3, 20-21

 

Khi ấy Chúa Giêsu cùng các môn đệ trở về nhà, và dân chúng đông đảo lại đổ xô tới, đến nỗi Người không dùng bữa được. Những thân nhân của Người hay tin đó, liền đi bắt Người, vì họ nói: "Người đã mất trí".

 

Tác giả: