Nhảy đến nội dung

Yêu như Thầy đã yêu

YÊU NHƯ THẦY ĐÃ YÊU                  

  (CN VI/PS-B)

Thông thường, khi dạy dỗ các môn đệ Đức Giê-su Ki-tô chỉ nhắc nhở là "Đừng…" "Chớ…" hoặc khuyên bảo là "Hãy…", "Nên…" v.v…. (Vd: Đừng giận ghét, Chớ ngoại tình, Đừng ly dị, Đừng thề thốt, Chớ trả thù – Mt 5, 21-42 v.v...). Tuy nhiên, trong bài Tin Mừng hôm nay (CN VI/PS-B – Ga 15, 9-17), Người không chỉ khuyên bảo, nhắc nhở, dạy dỗ các môn đệ một cách bình thường, mà Người nhấn mạnh: "Đây là điều răn của Thầy: anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em." (Ga 15, 12). Khi Người nói đó là điều răn, thì chính là Người muốn nói đến những điều luật mang tính răn đe: sống và làm theo thì sẽ được thưởng, nhưng từ chối không làm thì bị trách phạt. Điều đó cho thấy Đức Giê-su đã nói rõ Người xuống thế làm người để thực thi Luật Yêu Thương của Thiên Chúa dành cho nhân loại, và mong muốn các môn đệ, các tín hữu hãy sống và làm theo Người.

Vấn đề yêu thương anh em, yêu thương đồng loai đã đươc rất nhiều những vị thầy, những vị thức giả như tiên tri, ngôn sứ… dạy, và cùng lắm thì cũng chỉ khuyên: “yêu thương anh em, đồng loại như yêu chính bản thân mình” (“ái nhân như ái thân”). Nếu chỉ đọc lướt qua Lời dạy của Đức Ki-tô, có lẽ ai cũng chỉ cho Người dạy môn đệ cũng như bao bậc vĩ nhân, thánh nhân khác; nhưng nếu chú tâm suy niệm sẽ thấy Lời dạy của Người có khác. Tại sao lại thế? Vì Người dạy “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em”, mà muốn yêu thương nhau như Thầy yêu thương mình thì phải tìm hiểu cho thật thấu đáo xem Thầy đã yêu thương mình như thế nào? Mấu chốt vấn đề chính ở điểm này, bởi khi tìm hiểu thật kỹ tình yêu Thầy đã dành cho loài người, sẽ thấy Thầy không chỉ yêu thương loài người như yêu chính bản thân Thầy, mà còn yêu thương hơn cả bản thân mình nữa. Đó là “yêu thương đến độ hy sinh cả tính mạng cho người mình yêu” (Ga 15, 13).

Rõ ràng Đức Giê-su Ki-tô không chỉ khuyên bảo hãy yêu thương nhau một cách chung chung, mà Người còn lấy chính bản thân Người làm tấm gương để các môn đệ nhận thức được Tình Yêu Thiên Chúa cao cả đến mức độ nào. Và từ đó, Người khẳng định “Đây là điều răn của Thầy”. Quả thực, với bản tình con người mà muốn yêu thương tha nhân như yêu thương chính mình đã thấy khó khăn, chớ đừng nói là yêu thương người khác hơn cả yêu thương bản thân. Thậm chí yêu thương đồng loại đến mức hy sinh cả tính mạng mình thì đúng là thiên nan vạn nan.

Nói đến yêu thương thì không thể không nghĩ tới 2 hạng người: Có rất nhiều người yêu thương đồng loại bằng tất cả con người của mình trong hoạt động và cuộc sống (điển hình như Chân phước Tê-rê-sa Calcutta), nhưng cũng không thiếu cảnh yêu thương trên môi miệng (“Hỡi anh em là những người con bé nhỏ, chúng ta đừng yêu thương nơi đầu môi chót lưỡi, nhưng phải yêu thương cách chân thật và bằng việc làm.” – 1Ga 3, 18). Vâng, và vì thế muốn “yêu thương nhau như Thầy yêu thương anh em” thì điều kiện cần có và đủ phải là sống và làm được như Thầy Chí Thánh trong sứ vụ của Người. Khó thật đấy, nhưng không phải là không làm được nếu có đầy đủ ý chí và quyết tâm, vì “Đường đi khó không khó vì ngăn sông cách núi, mà khó vì lòng người ngại núi e sông” (Nguyễn Bá Học).

Hãy nhìn vào gương sống và hoạt động của các thánh (nói chung) và nhất là các thánh Tử vì Đạo, rồi tự đặt câu hỏi “Các ngài cũng người trần mắt thịt như mọi người trên thế gian này, vậy mà tại sao các ngài lại gặt hái được vinh quang tột đỉnh như thế?” Hỏi tức là trả lời rồi vậy, bởi vì hơn ai hết, các ngài đã thấu triệt được vấn đề “Đức Ki-tô đã chết vì chúng ta” (Rm 5, 6; Ep 5, 2; 1Ga 3,16); “Nếu Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta như thế thì chúng ta cũng phải yêu thương nhau.” (1Ga 4,11); “Chúng ta hãy yêu thương nhau, vì Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta trước.” (1Ga 4,19); “Đức Ki-tô đã thí mạng vì chúng ta. Như vậy, cả chúng ta nữa, chúng ta cũng phải thí mạng vì anh em.” (1Ga 3,16).

Bài học rút ra được từ nơi những gương sáng nêu trên chính là sống bằng và sống với bản tính Thiên Chúa mà Người đã ban cho bản thân, như lời thánh Phê-rô xác quyết: “Thiên Chúa đã ban tặng chúng ta những gì rất quý báu và trọng đại Người đã hứa, để nhờ đó, anh em được thông phần bản tính Thiên Chúa, sau khi đã thoát khỏi cảnh hư đốn do dục vọng gây ra trong trần gian.” (2Pr 1, 4). Sống yêu thương – yêu Thiên Chúa và tha nhân – là sống xứng đáng với phẩm giá của con người bằng cách thể hiện cụ thể mình chính là hình ảnh và là con cái Thiên Chúa. Đó cũng chính là điều mà con người cần thiết phải làm để được cứu rỗi. Cũng vì thế, Đức Giê-su Ki-tô chỉ truyền dạy cho con người một giới luật duy nhất là yêu thương nhau: “Điều Thầy truyền dạy anh em là hãy yêu thương nhau” (Ga 13, 34-35; 15, 12; 15, 17; 1Ga 3, 23; 2Ga 1, 5). Và vào ngày cánh chung, Thiên Chúa cũng chỉ căn cứ vào điều duy nhất ấy để thẩm định, phán xét công tội loài người (Mt 25, 31-46).

Tình yêu thật sự sẽ như một mồi lửa có thể lan truyền từ người nọ sang người kia và cuối cùng biến trần gian này thành Nước Trời. Chính Đức Giê-su đã mong ước lửa tình yêu mà Ngài đã đem đến trái đất lan truyền đến mọi người và bùng cháy lên: “Thầy đã đem lửa đến trần gian, và Thầy những ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên!” (Lc 12, 49). Nói cho rõ hơn thì lửa chính là Chúa Thánh Thần – ngọn Lửa Mến thần thiêng [“Truyền thống linh đạo giữ lại biểu tượng lửa như một trong những biểu tượng diễn tả đúng nhất về tác động của Thánh Thần (x. T. Gio-an Thánh Giá,): "Anh em đừng dập tắt Thánh Thần" (1Th 5,19).” – GL/HTCG, số 696]. Ngọn lửa Chúa Thánh Thần đã đem lại sự sống, sự sống lại và là sự sống mới cho các Tông đồ, cho các tín hữu. Thật sự chỉ có ngọn Lửa Mến Thánh Linh mới hồi phục, đưa người tín hữu vào sự sống mới trong Đức Ki-tô.

Tóm lại, người Ki-tô hữu khi đón nhận Phép Rửa, với nghi thức tưới Nước và xức Dầu thể hiện đích thân Chúa Thánh Thần đến thanh tẩy (như khi xưa Đức Ki-tô đã nhận chịu trên sông Gio-đan – Mt 3, 13-17). Nói cách cụ thể là do chính Đức Giê-su Thiên Chúa đem ngọn Lửa Mến tới thánh hóa tâm hồn người tín hữu, và vì thế mới chính thức được tham dự vào 3 chức vụ của Người (Tư tế, Ngôn sứ, Vương giả). Với 3 chức vụ ấy, mỗi Ki-tô hữu đều có nhiệm vụ “Phúc Âm hoá” đời sống bản thân, gia đình và xã hội bằng chính Tình Yêu Thầy chí thánh đã truyền dạy và thể hiện trên hy tế Thập giá. Vâng, chỉ môt phương cách duy nhất để thực thi hữu hiệu Lời Chúa trong trường hợp này là hãy YÊU NHƯ THẦY ĐÃ YÊU (Ga 13, 34).

Ấy cũng bởi vì “Đâu có tình yêu thương, ở đấy có Đức Chúa Trời. Đâu có lòng từ bi, ở đấy có ân sủng Người. Đâu có tình bác ái, thì Chúa chúc lành không ngơi. Đâu ý hợp tâm đầu, ở đấy chứa chan niềm vui…” (“Đâu Có Tình Yêu Thương” – Vinh Hạnh – TCCĐ). Ôi! Lạy Chúa! Xin cho chúng con biết nhận ra gương mặt của Chúa nơi tha nhân, để chúng con yêu thương họ như Chúa đã yêu thương chúng con. Cúi xin Chúa thương ban Thần Khí cho con, để con biết làm trước những điều mà con sẽ chia sẻ với anh em, bây giờ và mãi mãi. Amen. Alleluia! Alleluia!

JM. Lam Thy ĐVD.

Tác giả: