Home
Printer-friendly versionSend by email
-A A +A

01 Chương I

Tác giả: 
Lm Minh Anh

 

 

CHƯƠNG I

 

Đâu Là Những Nguy Cơ
Trong Việc Cầu Nguyện

 

Giá trị của đời sống chúng ta
chính là giá trị của việc
chúng ta cầu nguyện.

-MARTHE ROBIN

 

Trung thành và kiên trì trong cầu nguyện (những điểm cơ bản cần để thiết lập và duy trì mục tiêu chúng ta nhắm tới khi chiến đấu trong cầu nguyện) đòi hỏi một động cơ thúc đẩy mạnh mẽ. Chúng ta cần xác tín vững chắc rằng, dù đường đi không phải lúc nào cũng dễ dàng, nhưng nó đáng để khởi hành, và những khía cạnh tích cực của sự trung thành này sẽ tỷ lệ thuận với những nỗ lực chúng ta tạo ra cũng như những khó khăn mà chúng ta sẽ không tránh khỏi. Trong chương đầu tiên này, tôi sẽ giải thích những lý do chính tại sao chúng ta “phải luôn cầu nguyện và đừng nản lòng” như Chúa Giêsu mời gọi trong Tin Mừng (x. Lc 18, 1).

 

Để bắt đầu, tôi xin trích dẫn một đoạn của Thánh Phêrô Alcantara, một thầy Dòng Phanxicô thế kỷ XVI, người đã tạo nguồn cổ võ lớn lao cho cuộc cải cách của Thánh Têrêxa Avila. Đoạn này được trích từ tác phẩm Treatise on Prayer and Meditation của ngài; thế nhưng, ngài khiêm tốn quy tác phẩm đó cho Thánh Lawrence Justinian, trong cuốn In Signo Vitae:

 

Trong cầu nguyện, linh hồn được thanh tẩy khỏi tội lỗi, đức ái được nuôi dưỡng, đức tin được đâm rễ, đức cậy được củng cố và tinh thần được hỷ hoan. Trong cầu nguyện, linh hồn tan chảy trở nên trìu mến, tâm hồn được tinh luyện, chân lý tỏ lộ, cám dỗ phải đầu hàng và u buồn phải tan biến. Trong cầu nguyện, giác quan đổi mới, nhác nhớn tiêu tan, nhân đức yếu nhược được củng cố, thói hư lùi bước; và trong sự biến đổi này, những tia sáng sống động tỏa rạng, ước vọng thiên đàng trào dâng, ở đó, ngọn lửa tình yêu dành cho Thiên Chúa bừng cháy.

 

Tôi không muốn chú giải đoạn này, nhưng chỉ muốn trưng dẫn nó như một chứng từ khuyến khích, trong đó, chúng ta có thể hoàn toàn tin tưởng. Có thể chúng ta sẽ không tìm ra điều tương tự mà mình cảm nhận được hằng ngày, nhưng nếu chúng ta trung thành, thì dần dần sẽ cảm nghiệm được rằng mọi điều được hứa ban trong đoạn văn giàu cảm xúc trên là tuyệt đối đúng.

 

Giờ đây, tôi hướng đến một chứng tá gần đây hơn, đó là Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II trong Tông Thư Novo Millennio Ineunte. Tông Thư này gửi cho toàn thể các tín hữu, ban hành vào ngày 06 tháng 01 năm 2001, cuối Năm Toàn Xá, qua đó, Thánh Giáo Hoàng muốn chuẩn bị cho Giáo Hội bước vào ngàn năm thứ ba, ngài cổ xuý chúng ta “thả lưới vào chỗ nước sâu” (Lc 5, 4).

 

Trong tông thư này, Thánh Giáo Hoàng điểm lại Năm Toàn Xá và mời gọi chúng ta chiêm ngắm gương mặt Đức Kitô, “kho tàng và niềm vui của Giáo Hội”, ngài đưa ra một cảm hứng chiêm niệm về mầu nhiệm của Đức Giêsu, một cảm hứng vốn soi dẫn hành trình của mỗi tín hữu. Trong phần ba của tông thư, Thánh Giáo Hoàng khuyến khích chúng ta hãy “khởi sự lại từ Đức Kitô” hầu có thể đối mặt với những thách đố của ngàn năm thứ ba. Trong khi để mỗi Giáo Hội địa phương tự đặt ra cho mình những mục tiêu mục vụ, Thánh Giáo Hoàng đề nghị một số điểm căn bản có giá trị cho toàn thể Hội Thánh. Bằng cách trích dẫn những lời của Vaticanô II, ngài nhắc nhở mọi chương trình mục vụ nhất thiết phải giúp mỗi Kitô hữu đáp trả lời mời gọi nên thánh mà mỗi người đã lãnh nhận khi chịu phép Rửa Tội.

 

Tất cả các Kitô hữu, bất cứ trong bậc sống hay địa vị nào, đều được mời gọi vươn đến đời sống Kitô hữu viên mãn và đức ái trọn hảo (Lumen Gentium, 40).

 

Điều đầu tiên cần thiết để đặt việc “tập đi đàng nhơn đức” đích thực vào trong đời sống Giáo Hội phải là tập cầu nguyện, như Đức Gioan Phaolô II dạy chúng ta:

 

Việc tập đi đàng nhơn đức này đòi hỏi một đời sống Kitô hữu trỗi vượt trên hết trong nghệ thuật cầu nguyện. Năm Toàn Xá là một năm cầu nguyện sốt sắng hơn, cá nhân cũng như cộng đoàn. Nhưng chúng ta biết rõ, cầu nguyện không phải là một cái gì đương nhiên, ai cũng làm được. Chúng ta phải học cầu nguyện như thể học lại nghệ thuật này một cách mới mẻ từ môi miệng của chính Thầy Giêsu, như các môn đệ đầu tiên, “Lạy Thầy, xin dạy chúng con cầu nguyện!” (Lc 11, 1). Cầu nguyện khai mở cuộc đối thoại với Đức Kitô vốn biến chúng ta thành bạn thiết thân của Ngài, “Hãy ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong anh em” (Ga 15, 4). Sự hỗ tương này chính là bản chất và linh hồn của đời sống Kitô hữu, cũng là điều kiện của mọi đời sống mục vụ đích thực. Được Thánh Thần vận hành trong chúng ta, sự tương hỗ này dẫn chúng ta đến chiêm ngắm dung nhan Chúa Cha, nhờ Đức Kitô và trong Đức Kitô. Việc học hỏi theo khuôn mẫu Ba Ngôi này trong cầu nguyện và sống điều đó cách sung mãn, không chỉ trên hết trong phụng vụ, chóp đỉnh và nguồn mạch của đời sống Giáo Hội, mà còn trong kinh nghiệm cá nhân, là bí quyết của một Kitô giáo sống động thực sự. Một Kitô giáo không có lý do gì để sợ tương lai, bởi nó không ngừng trở về với các nguồn mạch và tìm thấy trong những nguồn mạch đó sức sống mới[1].

 

Trong đoạn văn súc tích này, Đức Gioan Phaolô II nhắc cho chúng ta một số điểm thiết yếu: cầu nguyện là linh hồn của đời sống Kitô hữu, là điều kiện tiên quyết cho mọi hoạt động mục vụ đích thực. Cầu nguyện giúp chúng ta trở nên bạn hữu của Thiên Chúa, dẫn chúng ta vào mối nghĩa thiết với Người, kéo chúng ta đến với sự sống sung mãn của Người, đặt chúng ta sống trong Người và Người trong chúng ta. Không có sự trao đổi tình yêu hỗ tương mà việc cầu nguyện mang lại đó, Kitô giáo chỉ là một chủ nghĩa hình thức hoàn toàn trống rỗng, loan báo Tin Mừng chỉ là cuộc tuyên truyền và hoạt động bác ái chỉ là công việc xã hội vốn không tạo ra một thay đổi căn bản nào nơi điều kiện sống của nhân loại.

 

Một phát biểu khác của Đức giáo hoàng mà tôi thấy rất đúng và rất quan trọng, đó là, cầu nguyện là “bí quyết của một Kitô giáo sống động thực sự, vốn không có lý do gì để sợ tương lai”. Cầu nguyện giúp chúng ta kín múc từ Thiên Chúa một sức sống luôn luôn mới, làm cho chúng ta không ngừng được tái sinh và đổi mới. Mặc bao thử thách và thất vọng, khắc nghiệt do hoàn cảnh, thất bại hay thiếu sót... cầu nguyện vẫn làm cho chúng ta tái khám phá đủ sức mạnh và hy vọng để một lần nữa đảm nhận đời sống của mình với niềm tin tưởng hoàn toàn vào tương lai. Đây là điều thực sự cần thiết trong thời buổi hôm nay.

 

Ngoài ra, Đức Gioan Phaolô II cũng đề cập đến cơn khát một đời sống thiêng liêng, một cơn khát mãnh liệt thật hiển nhiên trong thế giới hôm nay; một nỗi khát khao thường khi rất mù mờ, nhưng cũng thật đúng lúc; và ngài chỉ cho truyền thống Giáo Hội phương cách đáp ứng đích thực nỗi khát khao này:

 

Về mặt này, bề dày truyền thống thần nghiệm của Giáo Hội cả Đông Phương lẫn Tây Phương đều có nhiều điều để nói. Truyền thống đó cho thấy cầu nguyện có thể tiến triển thế nào, như một cuộc đối thoại của tình yêu đích thực, đến nỗi người cầu nguyện được chiếm hữu trọn vẹn bởi Người Con Yêu Dấu, rung động trước cái chạm của Thánh Thần và ở lại trong lòng Chúa Cha với tình con thảo. Đây là kinh nghiệm sống động về những gì Đức Kitô đã hứa, “Ai yêu mến Thầy, Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy, và Thầy sẽ yêu mến người ấy và tỏ mình ra cho người ấy” (Ga 14, 21).

 

Tiếp đến, ngài nói về tầm quan trọng của việc mọi cộng đoàn Kitô hữu, trước hết, phải trở thành một nơi giáo dục cầu nguyện (gia đình, Canh Tân Đặc Sủng, Công Giáo Tiến Hành, .v.v..):

 

Vâng, Anh Chị em rất thân mến, các cộng đoàn Kitô hữu của chúng ta phải trở nên những “trường học” cầu nguyện đích thực, nơi mà việc gặp gỡ Đức Kitô được biểu lộ không chỉ trong việc cầu xin sự trợ giúp mà còn trong việc tạ ơn, ca ngợi, thờ phượng, chiêm niệm, lắng nghe, và sốt sắng nguyện cầu, cho tới khi tâm hồn thực sự “phải lòng Thiên Chúa”. Phải, đó chính là cầu nguyện cao độ, nhưng nó không làm chúng ta ra xao lãng việc dấn thân vào lịch sử: bằng cách mở lòng ra với tình yêu Thiên Chúa, đồng thời mở lòng yêu thương với anh chị em mình, giúp chúng ta có khả năng định hình lịch sử theo kế hoạch của Thiên Chúa.

 

Lời mời gọi cầu nguyện này được gửi đến mọi người, kể cả giáo dân. Nếu giáo dân không cầu nguyện, hoặc bằng lòng với việc cầu nguyện hoàn toàn hời hợt, họ sẽ gặp nguy hiểm.

 

Thật sai lầm khi nghĩ rằng các Kitô hữu bình thường có thể bằng lòng với việc cầu nguyện cách hời hợt vốn không có khả năng thấm nhuần toàn bộ đời sống của họ. Đặc biệt khi đối mặt với bao thử thách đức tin mà thế giới hôm nay đặt ra, họ sẽ không chỉ là những Kitô hữu xoàng, mà còn là “những Kitô hữu liều”. Không biết tự bao giờ, họ sẽ rơi vào nguy cơ thấy đức tin của mình dần dà bị xem nhẹ, và cuối cùng, chiều theo sự lôi cuốn của “những điều thay thế”, chấp nhận những đề nghị khác có dáng dấp tôn giáo và thậm chí đắm mình trong những mê tín thái quá.

 

Và theo đó, ngài kết luận:

 

Vì thế, một cách nào đó, giáo dục cầu nguyện phải trở thành trọng điểm của mọi kế hoạch mục vụ.

 

1. Cầu nguyện như sự đáp trả lời mời gọi

 

Động lực đầu tiên thôi thúc chúng ta đi vào đời sống cầu nguyện là chính Thiên Chúa đích thân mời gọi chúng ta cầu nguyện. Con người đi tìm Thiên Chúa nhưng phải nói, chủ động hơn, chính Thiên Chúa tìm được con người. Thiên Chúa mời gọi chúng ta cầu nguyện với Người, bởi ngay từ đầu, hơn cả chúng ta có thể tưởng tượng, Người mãnh liệt khát khao đi vào mối hiệp thông với chúng ta.

 

Nền tảng vững chắc nhất của đời sống cầu nguyện không phải là việc tìm kiếm, sáng kiến riêng, hay khát khao của chúng ta (những điều này thật giá trị, nhưng nhiều lúc không đủ), mà là lời mời gọi của Thiên Chúa, “Hãy cầu nguyện không ngừng!” (x.1Tx 5, 17). “Hãy tỉnh thức và cầu nguyện” (Mt 26, 41), “Hãy cầu nguyện luôn!” (Eph 6, 18).

 

Chúng ta không cầu nguyện vì khát khao Thiên Chúa, hay vì mong chờ những ân ban giá trị có được từ việc cầu nguyện, nhưng chúng ta cầu nguyện trước hết và trên hết bởi chính Thiên Chúa đòi hỏi chúng ta cầu nguyện. Và khi bảo chúng ta cầu nguyện, Người biết Người đang làm gì. Kế hoạch của Thiên Chúa thì vô cùng vượt xa bất cứ điều gì chúng ta có thể thoáng thấy, ước ao hoặc tưởng tượng. Trong cầu nguyện, một mầu nhiệm tuyệt đối sẽ vượt trên mọi hiểu biết của chúng ta. Điều thôi thúc một đời sống cầu nguyện chính là đức tin - đức tin như sự vâng phục đầy tín thác trước đề nghị của Thiên Chúa. Chúng ta thậm chí sẽ không thể tưởng tượng những hoa thơm trái ngọt cao quý của sự đáp trả đầy khiêm nhường và tín thác này trước lời mời gọi của Thiên Chúa; như Abraham, ông đã lên đường mà không biết mình đi đâu, vì thế, ông trở thành cha của toàn thể dân tộc.

 

Nếu chúng ta cầu nguyện để vụ lợi có được do cầu nguyện, chúng ta có nguy cơ trở nên nản lòng ở một giai đoạn nào đó. Ích lợi không đến ngay tức thì, cũng không cân đo được. Nếu cầu nguyện với một thái độ khiêm tốn đặt mình dưới Lời Chúa, chúng ta sẽ luôn được ơn bền đỗ. Đây là những gì mà Marthe Robin thổ lộ:

 

Tôi muốn trung thành, mãi trung thành cầu nguyện mỗi ngày, bất chấp mọi khô khan, nhàm chán hay gớm ghiếc mà tôi có thể gặp phải..., bất chấp những bất ưng, thất vọng và cả những dọa dẫm mà ma quỷ có thể thì thầm vào tai tôi!... Vào những ngày rối loạn và giày vò, tôi sẽ tự nhủ: Thiên Chúa muốn điều này, ơn gọi của tôi cần điều này, và với tôi, thế là đủ! Tôi sẽ cầu nguyện, tôi sẽ cầu nguyện trọn vẹn thời gian đã định cho tôi, tôi sẽ cầu nguyện tốt nhất có thể và cho đến khi không còn thời giờ nữa, tôi sẽ can đảm thưa lên với Chúa, “Lạy Chúa, con không cầu nguyện gì cả, con chẳng được tích sự gì cả, con không làm gì cả, nhưng con vâng lời Chúa. Con đau khổ đã nhiều, nhưng con muốn Chúa biết rằng, con yêu mến Chúa và muốn yêu mến Chúa”.

 

Thái độ vâng phục đầy yêu thương, tín thác này là hoa trái tốt đẹp hơn tất cả. Đời sống cầu nguyện của chúng ta sẽ phong phú và sinh ích theo cấp độ nó được gợi hứng, không phải bởi một ước ao để đạt được bất cứ điều gì đó, nhưng bởi một đáp trả đầy tin tưởng, vâng phục lời mời gọi của Thiên Chúa. Thiên Chúa biết điều gì tốt cho chúng ta, và với chúng ta, thế là đủ. Chúng ta không nên có cái nhìn thực dụng về cầu nguyện, nhốt nó trong khung sườn của kết quả và lợi ích; vì điều đó sẽ làm bóp méo cầu nguyện hoàn toàn. Chúng ta không phải biện minh cho bất kỳ ai khác về thời gian chúng ta dành cho cầu nguyện. Có thể nói rằng Thiên Chúa mời gọi chúng ta “phí thời gian” cho Người, và thế là đủ.

 

Theo lời của Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu, thì đó là một “sự hoang phí sinh ích”[2]. Ở đây, có một khía cạnh về tính nhưng không vốn tuyệt đối cần thiết cho bất kỳ đời sống cầu nguyện nào. Nghịch lý thay, việc cầu nguyện của chúng ta càng nhưng không - được thực hiện cách vô vị lợi, chứ không để đạt được một điều gì đó - nó càng sinh nhiều hoa trái. Điều chúng ta cần làm, là phó mình cho Chúa đến mức có thể làm bất cứ điều gì Người bảo chúng ta, mà không cảm thấy cần giải thích gì thêm. Đức Maria nói với các gia nhân tại tiệc cưới Cana, “Ngài bảo gì, anh em hãy làm theo” (Ga 2, 5).

 

Luôn luôn khắc cốt ghi tâm nguyên tắc nhưng không này, dẫu vậy, giờ đây, tôi cũng muốn trình bày một số lý do biện minh cho thời gian chúng ta dành cho việc cầu nguyện. Thánh Gioan Thánh Giá nói, “Kẻ chạy trốn cầu nguyện là chạy trốn mọi điều lành[3]”. Nào xem tại sao như vậy.

 

2. Thiên Chúa đến trước tiên
trong đời sống chúng ta

 

Cuộc sống con người chỉ tìm được quân bình và sự tươi đẹp trọn vẹn khi đặt Thiên Chúa làm trung tâm. Thánh Joan Arc khuyên, “Trước hết hãy phụng sự Thiên Chúa!”. Trung thành cầu nguyện là điều bảo đảm chắc chắn chúng ta có thể dành cho Thiên Chúa vị trí trung tâm này bằng những phương thế đặc thù. Không trung thành cầu nguyện, việc dành vị trí ưu tiên cho Thiên Chúa có nguy cơ không hơn không kém một ý định tốt hay thậm chí một ảo tưởng. Không cầu nguyện, một cách tinh tế, chúng ta hầu chắc sẽ đặt cái tôi của mình ở trung tâm của đời sống, thay vì Thiên Chúa hằng sống. Chúng ta sẽ xao lãng bởi vô số ước muốn, đòi hỏi và sợ hãi khác nhau. Trái lại, nếu chúng ta cầu nguyện, thì dẫu phải chiến đấu chống lại sức nặng của bản ngã và những thói quen quy ngã cũng như ích kỷ của mình, chúng ta thấy rằng, mình vẫn đang đi theo hướng tách ra khỏi chính mình và tái - quy - về Thiên Chúa vốn dành lại cho Người vị trí xứng đáng - vị trí đầu tiên - trong đời chúng ta. “Ai không cùng tôi thu góp là phân tán” (Lc 11, 23). Khi Thiên Chúa ở vị trí trung tâm, mọi sự khác sẽ rơi vào đúng chỗ của chúng.

 

Tuyệt đối dành cho Thiên Chúa vị trí trước nhất so với mọi thực tại khác (công việc, các mối tương quan, .v.v...) là cách duy nhất để thiết lập một mối tương quan đúng đắn với các sự vật. Chính việc thiết lập này kéo theo một sự đầu tư đích thực và một sự tách biệt lành mạnh, giúp chúng ta bảo vệ tự do bên trong và thống nhất đời sống. Nếu không, chúng ta sẽ rơi vào sự dửng dưng và bất cẩn, hoặc hoàn toàn ngược lại, rơi vào sự phụ thuộc, xâm chiếm, xao lãng, và đau đớn không cần thiết.

 

Mối liên hệ giữa Thiên Chúa và con người được thiết lập khi chúng ta cầu nguyện cũng là yếu tố cơ bản của sự ổn định trong đời sống. Thiên Chúa là Đá Tảng, là Tình Yêu không hề lay chuyển, là “Cha, Đấng dựng nên muôn vì tinh tú, nơi Người không hề có sự thay đổi, cũng không hề có sự chuyển vần khi tối khi sáng” (Gc 1, 17). Trong một thế giới bất ổn như thế giới chúng ta, với tốc độ thay đổi nhanh đến chóng mặt, khiến các thiết bị điện tử trở nên lỗi thời trong thời gian vỏn vẹn một năm, thì điều quan trọng hơn cả, là tìm sự hỗ trợ bên trong nơi Thiên Chúa. Cầu nguyện dạy chúng ta bén rễ sâu nơi Người, “ở trong tình yêu của Người” (Ga 15, 9), tìm thấy sức mạnh và sự an toàn nơi Người, nhờ đó, đến lượt mình, chúng ta trở thành nguồn động viên không suy suyển cho kẻ khác.

 

Hơn thế nữa, Thiên Chúa là nguồn lực duy nhất không bao giờ cạn kiệt. Bằng cầu nguyện, như Thánh Phaolô nói, “dù con người bên ngoài của chúng ta có tiêu tan đi thì con người bên trong chúng ta ngày càng đổi mới” (2Cr 4, 16). Chúng ta cũng có thể nhớ lời của ngôn sứ Isaia:

 

Thanh niên thì mệt mỏi nhọc nhằn; trai tráng cũng ngã nghiêng, lảo đảo; nhưng những người cậy trông Đức Chúa thì được thêm sức mạnh, như thể chim bằng, họ tung cánh, họ chạy hoài mà không mỏi mệt, và đi mãi mà chẳng chùn chân (Is 40, 30-31).

 

Dĩ nhiên sẽ có những lúc thử thách và mệt mỏi trong đời vì chúng ta cần trải nghiệm sự yếu đuối để biết rằng mình nghèo hèn và nhỏ bé. Tuy nhiên, vẫn đúng, là trong cầu nguyện, Thiên Chúa có thể ban cho chúng ta nguồn năng lượng, đôi lúc kể cả năng lượng thể lý, mà chúng ta cần để phụng sự và yêu mến Người.

 

3. Yêu vô vị lợi, không phải vì một cái gì có được từ nó

 

Trung thành cầu nguyện có giá trị khôn cùng bởi nó giúp chúng ta giữ gìn yếu tố nhưng không trong đời mình. Như tôi đã nói trước đây, cầu nguyện có nghĩa là phí thời giờ cho Thiên Chúa. Một cách nền tảng, đây là thái độ của một tình yêu vô vị lợi. Ngày nay, ý tưởng nhưng không này gặp phải hiểm nguy khi mọi thứ được đánh giá bởi lợi nhuận, kết quả và hiệu suất. Điều đó rốt cuộc hủy hoại đời sống con người.

 

Tình yêu đích thực không thể bị giảm thiểu trong phạm trù của những gì được coi là hữu ích. Đề cập đến việc lập Nhóm Mười Hai Tông Đồ, Tin Mừng Marcô nói rằng, Chúa Giêsu chọn họ trước hết để “ở với Ngài” (Mc 3, 14). Và chỉ sau đó, mới chia sẻ sứ vụ của Ngài: rao giảng, trừ quỷ, .v.v...Chúng ta không chỉ là người phục vụ, chúng ta được mời gọi để làm bạn, thông phần sự sống và trở nên nghĩa thiết với Ngài, vượt trên bất cứ yêu sách nào về sự hữu ích. Điều này dẫn chúng ta về lại với thuở ban sơ, khi trong cơn gió nhẹ, Thiên Chúa đi dạo với Adam và Eva trong Vườn Địa Đàng (x. St 3, 8). Tôi yêu một trong những điều Chúa nói với Chị Marie Ba Ngôi,[4] mời gọi chị sống đời cầu nguyện, tôn thờ cách hoàn toàn nhưng không và lĩnh hội cách tinh tuyền. Ngài bảo chị, “Tìm các công nhân để làm việc thì dễ hơn tìm bọn trẻ để vui chơi”[5].

 

Cầu nguyện là tiêu tốn thời giờ một cách vô vị lợi với Chúa, cốt chỉ tận hưởng niềm vui bên nhau. Cầu nguyện là yêu nhau bởi vì cho nhau thời giờ có nghĩa là cho nhau sự sống. Yêu, tiên vàn, không có nghĩa là làm một điều gì đó cho người mình yêu, nhưng là ở đó với họ. Cầu nguyện tập cho chúng ta biết ở đó với Thiên Chúa, bằng hành vi đơn sơ của việc chú tâm đầy yêu thương.

 

Kỳ diệu thay, khi chúng ta học cách “ở lại” với chỉ một mình Thiên Chúa, thì qua chính sự kiện đó, chúng ta học được cách ở lại với tha nhân. Ai thiết lập cho mình một đời sống cầu nguyện kiên vững sẽ có được một tính cách nổi trội trong việc chú tâm, hiện diện, lắng nghe và sẵn sàng mà những người khác vốn dành cả đời họ cho các hoạt động thường không thể có được. Cầu nguyện gia tăng sự nhạy cảm, lòng kính trọng và chú tâm vốn là những quà tặng quý báu cho những ai gặp gỡ chúng ta trên đường đời.

 

Không trường học nào dạy sự quan tâm đến tha nhân cách cao đẹp và hiệu quả hơn trường học kiên trì cầu nguyện. Sẽ chẳng có ý nghĩa gì khi cầu nguyện dẫn đến đối kháng hay mâu thuẫn với tình yêu dành cho tha nhân.

 

4. Cảm nếm trước Nước Trời

 

Cầu nguyện giúp chúng ta cảm nếm trước thiên đàng. Cầu nguyện làm cho chúng ta thoáng thấy và cảm nhận một niềm hạnh phúc không thuộc về thế giới này và không gì dưới đất này có thể mang lại cho chúng ta niềm hạnh phúc trong Chúa mà chúng ta hướng về và vì nó chúng ta được tạo thành. Phải, hẳn chúng ta sẽ trải qua những cuộc chiến đấu, đau khổ và sự khô khan trong đời sống cầu nguyện - chúng ta sẽ trở lại với chúng. Nhưng nếu trung thành cầu nguyện, chúng ta sẽ hưởng nếm thường xuyên niềm hạnh phúc không thể diễn tả được: một mức độ bình an và sung mãn vốn là sự cảm nếm trước Nước Trời. Đức Giêsu hứa với chúng ta rằng “Các anh sẽ thấy trời rộng mở” (Ga 1, 51).

 

Điều luật đầu tiên của các Chư Huynh dòng Đức Bà Núi Carmel, được thành lập tại Đất Thánh vào thế kỷ XII, mời gọi họ “ngày đêm suy gẫm luật Chúa” với mục đích “cảm nếm cách nào đó trong tâm hồn chúng ta, cảm nghiệm trong tâm trí chúng ta sức mạnh từ sự hiện diện của Thiên Chúa và sự ngọt ngào từ vinh quang trên cao, không chỉ sau khi chết, nhưng ngay cả trong đời sống phải chết này”.[6] Thánh Têrêxa Avilla lấy lại ý tưởng này trong cuốn Lâu Đài Nội Tâm, The Interior Castle:

 

Bởi có thể cảm nếm trước thiên đàng trên trần gian, chúng ta hãy khẩn khoản nài xin Chúa ban ân sủng để không bỏ lỡ nó vì tội lỗi của mình. Hãy cầu xin Người chỉ cho chúng ta con đường dẫn đến điều đó và ban cho chúng ta sức mạnh tâm hồn để khai quật kho báu ẩn tàng này, bởi nó thực sự đang tiềm ẩn trong chúng ta.[7]

 

Cầu nguyện giúp chúng ta đạt thấu những thực tại mà Thánh Phaolô công bố:

 

Ðiều mắt chẳng hề thấy, tai chẳng hề nghe, lòng người không hề nghĩ tới, đó lại là điều Thiên Chúa đã dọn sẵn cho những ai mến yêu Người (1Cr 2, 9).

 

Điều này cũng có nghĩa là, trong cầu nguyện, chúng ta học biết ngay trên cõi đời này hoạt động và niềm vui sướng của chúng ta sẽ là gì trong cõi đời đời: đó là hỷ hoan sung mãn trước vẻ đẹp của Thiên Chúa và vinh quang Nước Trời. Chúng ta học cách chu toàn những bổn phận mà vì đó chúng ta được tạo thành. Chúng ta vận hành những khả năng tốt nhất, sâu xa nhất vốn được phú bẩm với tư cách là người cũng là những khả năng thường ít sử dụng: khả năng tôn thờ, kinh ngạc, tán dương và cảm tạ. Chúng ta phục hồi con tim và đôi mắt của trẻ thơ, để ngây ngất trước Cái Mỹ Miều trỗi vượt mọi cái mỹ miều, trước Tình Yêu vượt trên mọi tình yêu.

 

Vậy cầu nguyện cũng có nghĩa là làm cho chúng ta thành những con người sung mãn, tương xứng với những khả năng ẩn tàng của nhân tính và những khát vọng thầm kín nhất nơi tâm hồn mình. Dĩ nhiên chúng ta sẽ không dễ dàng cảm nhận điều này trong cuộc sống thường ngày, nhưng tất cả những ai trung thành dấn thân đầy thiện chí vào con đường cầu nguyện, sẽ cảm nhận một điều gì đó, ít ra là vào những thời gian ân sủng nào đó. Ngày nay điều này đặc biệt đúng. Có quá nhiều điều xấu xa, tội lỗi và đau buồn trong thế giới chúng ta đến nỗi Thiên Chúa, Đấng trung thành, Đấng muốn khơi lên niềm hy vọng của chúng ta, không ngừng bày tỏ cho con cái mình những kho báu Nước Trời. Thánh Gioan Thánh Giá đã nói đến điều này vào thế kỷ XVI:

 

Thiên Chúa luôn tỏ cho những kẻ hay chết những kho tàng khôn ngoan và thần trí Người, nhưng giờ đây, khi sự dữ ngày càng lộ bộ mặt thật của nó thì Thiên Chúa càng tỏ rõ những kho tàng này hơn.[8]

 

Hôm nay Người sẽ nói gì!

 

Riêng với cá nhân tôi, tôi ngạc nhiên trước một số ơn ham thích cầu nguyện mà nhiều người lãnh nhận hôm nay, kể cả những giáo dân rất đơn sơ trong suốt những giờ Chầu Thánh Thể hằng tuần tại nhà thờ địa phương của họ. Điều này không được báo chí nói đến, nhưng cho thấy, một đời sống thần nghiệm đích thực đang có nơi Dân Thiên Chúa, đặc biệt nơi những người nghèo hèn và bé nhỏ.

 

Trong Thánh Thần, Đức Giêsu hân hoan thốt lên rằng, “Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu kín không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn. Vâng, lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha” (Lc 10, 21).

 

Hãy quan sát sự kiện đẹp đẽ này: Bằng cách dẫn chúng ta đi vào mối hiệp thông với Thiên Chúa, cầu nguyện giúp chúng ta thông dự vào tính sáng tạo của Người. Việc chiêm niệm hun đúc khả năng sáng tạo và phát minh của chúng ta, đặc biệt trong lãnh địa của cái đẹp. Nghệ thuật hiện thời đang thiếu cảm hứng cách trầm trọng và rất thường không tạo ra gì hơn sự xấu xa kinh khủng, khi người ta quá khát khao cái đẹp. Chỉ bằng cách làm mới đức tin và cầu nguyện, các nghệ sĩ mới có thể tái khám phá tính sáng tạo đích thực, nhờ đó một lần nữa, họ có khả năng mang lại cho con người cái đẹp mà họ rất đỗi trông mong, như Fra Angelico, Rembrandt, hay Johann Sebastian Bach đã làm.

 

5. Biết Chúa và biết mình

 

Một trong những hoa trái của cầu nguyện là nó giúp ta biết Chúa và biết mình ngày một thâm sâu hơn. Có nhiều điều để bàn về điểm này, và một truyền thống thiêng liêng phong phú về chủ đề này thực sự đã có nơi các tác giả tu đức. Ở đây tôi chỉ nói đến một cách vắn gọn.

 

Mỗi ngày một chút, cầu nguyện dẫn chúng ta đi vào sự hiểu biết thực sự về Thiên Chúa, không phải một Thiên Chúa xa xôi, trừu tượng nào đó; cũng không phải là “thợ đồng hồ” của Voltaire, hay chúa của các nhà khôn ngoan và uyên bác. Thậm chí cũng không phải là Thiên Chúa, Đấng vốn là sản phẩm của một loại lý luận thần học thuần lý, lạnh lùng. Thiên Chúa chúng ta nhận biết trong cầu nguyện là một Thiên Chúa có ngôi vị, Thiên Chúa hằng sống và đích thực, Thiên Chúa của Abraham, Isaac và Jacob, là Cha của Đức Giêsu Kitô; Thiên Chúa nói với cõi lòng, như Pascal diễn đạt. Không phải vị Thiên Chúa mà chúng ta bằng lòng với một số ý tưởng lĩnh hội từ nền giáo dục hay thừa hưởng từ văn hóa của mình, cũng không phải vị Thiên Chúa, Đấng là sản phẩm của những dự phóng tâm lý của chính chúng ta, nhưng là một Thiên Chúa đích thực.

 

Cầu nguyện giúp chúng ta vượt ra khỏi những ý tưởng của mình về Thiên Chúa, khỏi những cách thức chúng ta miêu tả Người cho chính mình vốn luôn sai lầm hoặc quá hẹp hòi, và dừng lại ở một cảm nghiệm nào đó về Người. Đó là một điều hoàn toàn khác. Trong sách Gióp, chúng ta tìm thấy một câu rất hay:

 

Trước kia, con chỉ được biết về Ngài nhờ người ta nói lại, nhưng giờ đây, chính mắt con chứng kiến (G 42, 5).

 

Mục đích chính của việc mạc khải mang tính ngôi vị của Thiên Chúa cũng là hoa trái cốt lõi của việc cầu nguyện, chính là nhận biết Người là Cha. Qua Đức Kitô, dưới ánh sáng của Chúa Thánh Thần, Thiên Chúa mạc khải Người là Cha. Đoạn trích từ Tin Mừng Luca trên đây, trong đó Đức Giêsu vui mừng trước việc Thiên Chúa không mạc khải cho những bậc khôn ngoan và thông hiểu, nhưng tỏ ra cho những người bé mọn, tiếp tục như sau:

 

Cha tôi đã giao phó mọi sự cho tôi. Và không ai biết người Con là ai, trừ Chúa Cha, cũng như không ai biết Chúa Cha là ai, trừ người Con, và kẻ mà người Con muốn mặc khải cho (Lc 10, 22).

 

Những lời này cho thấy rõ mục tiêu của việc mạc khải này là mầu nhiệm Thiên Chúa là Cha. Thiên Chúa là nguồn sống vô tận, là Cội Nguồn, là ân ban khôn nguôi, là lòng quãng đại, là sự tốt lành, trìu mến, và nhân từ vô biên. Một đoạn rất hay từ sách Giêrêmia, chương 31, giới thiệu Giao Ước Mới, kết thúc bằng những lời này:

 

Đây là giao ước Ta sẽ lập với nhà Israel sau những ngày đó - sấm ngôn của Ðức Chúa. Ta sẽ ghi vào lòng dạ chúng, sẽ khắc vào tâm khảm chúng Lề Luật của Ta. Ta sẽ là Thiên Chúa của chúng, còn chúng sẽ là dân của Ta. Chúng sẽ không còn phải dạy bảo nhau, kẻ này nói với người kia: “Hãy học cho biết Ðức Chúa”, vì hết thảy chúng, từ người nhỏ đến người lớn, sẽ biết Ta - sấm ngôn của Ðức Chúa. Ta sẽ tha thứ tội ác cho chúng và không còn nhớ đến lỗi lầm của chúng nữa (Gr 3, 33-34).

 

Đoạn trích ý nghĩa này nối kết việc ban ơn nhận biết Thiên Chúa cho mọi người với việc tuôn đổ lòng nhân từ và sự tha thứ của Người.

 

Thiên Chúa được nhận biết trong sự cao cả, siêu việt, oai phong, và quyền năng vô biên của Người, nhưng đồng thời trong sự dịu dàng, gần gũi, trìu mến và lòng thương xót vô bờ của Người.

 

Việc ban ơn nhận biết Thiên Chúa cho mọi người vào thời Thiên Sai cũng được ngôn sứ Isaia giới thiệu bằng những thuật ngữ kêu mời:

 

Sự hiểu biết Ðức Chúa sẽ tràn ngập đất này,

cũng như nước lấp đầy lòng biển (Is 11, 9).

 

Biết Thiên Chúa cũng giúp chúng ta biết chính mình cách đích thực. Là người, chúng ta chỉ có thể biết mình cách đích thực dưới ánh sáng của Thiên Chúa. Dĩ nhiên, không được phép xem thường mọi điều chúng ta có thể học biết về bản thân bằng các phương tiện của con người (kinh nghiệm sống, tâm lý, khoa học nhân văn) nhưng điều đó chỉ cung cấp một lượng kiến thức hạn chế và một phần nào đó về hữu thể chúng ta.

Chúng ta chỉ tiếp cận căn tính thâm sâu nhất của mình dưới ánh sáng Thiên Chúa khi chúng ta hiển hiện trước mắt của Cha chúng ta trên trời.

 

Sự nhận biết này có hai khía cạnh: một khía cạnh tuy ban đầu tiêu cực nhưng trực tiếp dẫn đến một điều gì đó cực kỳ tích cực. Tôi sẽ bàn về điều này đầy đủ hơn ở phần sau, nhưng ở đây tôi chỉ muốn nói một đôi lời.

 

Khía cạnh tiêu cực này liên quan đến tội lỗi, đến sự hư hỏng thâm căn cố đế của chúng ta. Chúng ta chỉ biết những điều này cách tỏ tường dưới ánh sáng của Thiên Chúa. Một khi đối diện với Người, bấy giờ sẽ không còn chỗ cho bất cứ giả trá khả thể nào nữa; không còn trốn tránh hay biện hộ, không còn mặt nạ. Chúng ta buộc phải nhìn nhận mình là ai, với những tổn thương, yếu hèn, bất nhất, ích kỷ, cứng lòng, mưu ma chước quỷ và mọi điều tồi tệ khác.

 

Phơi bày ra trước Lời của Thiên Chúa thì chẳng phải là chuyện nhỏ tí nào:

 

Lời Thiên Chúa là lời sống động, hữu hiệu và sắc bén hơn cả gươm hai lưỡi: xuyên thấu chỗ phân cách tâm linh, cốt với tủy; lời đó phê phán tâm tình cũng như tư tưởng của lòng người. Vì không có loài thọ tạo nào mà không hiện rõ trước Lời Chúa, nhưng tất cả đều trần trụi và phơi bày trước mặt Ðấng có quyền đòi chúng ta trả lẽ (Dt 4, 12-13).

 

Hạnh phúc thay, Thiên Chúa thật dịu dàng và nhân từ và sự phơi bày này chỉ diễn ra dần dần, khi chúng ta ngày càng có khả năng chịu đựng nó. Thiên Chúa chỉ cho chúng ta thấy tội lỗi của mình cùng lúc khi mạc khải sự tha thứ và lòng nhân ái của Người. Chúng ta khám phá sự buồn bã của tình trạng tội lỗi nhưng cũng tìm thấy sự khốn cùng tuyệt đối của thân phận thụ tạo nơi mình: con người có gì mà không lãnh nhận từ Thiên Chúa và nếu đã lãnh nhận điều gì, thì đó hoàn toàn là do ân ban thuần túy, để chúng ta không quy điều gì cho mình cũng không lấy làm vinh dự trong bất cứ điều gì.

 

Giai đoạn nhìn nhận sự thật này quả là cần thiết. Không biết bệnh thì không thể chữa được. Chỉ có sự thật mới giải phóng chúng ta. Tuy nhiên, may thay, tiến trình này không dừng lại tại đó, nó chuyển sang một điều gì đó sâu sắc hơn, đẹp đẽ hơn vô cùng: trên cả tội lỗi và sa ngã của mình, chúng ta khám phá ra rằng, mình là con cái Thiên Chúa. Thiên Chúa yêu chúng ta trong chính hiện trạng của mỗi người và chính tình yêu này trao cho chúng ta căn tính sâu sắc nhất.

 

Ở một mức độ sâu xa và cốt yếu hơn, những giới hạn của chúng ta cũng như tác động của sự dữ trên mỗi người có thể có một cốt lõi nào đó chưa được chạm đến: đó là căn tính của chúng ta với tư cách con cái Thiên Chúa. Mỗi một chúng ta là một hữu thể vương mang tội lỗi, cấp thiết cần được thanh tẩy và hoán cải. Dẫu vậy, có một điều gì đó bên trong chúng ta tuyệt đối tinh tuyền và nguyên vẹn: đó là tình yêu mà Thiên Chúa là Tạo Hóa và là Cha dành cho mỗi người chúng ta. Đây là toàn bộ nền tảng căn tính của chúng ta; một địa vị không thể chuyển nhượng, ấy là mỗi chúng ta là con yêu dấu của Thiên Chúa. Việc xác tín được điều này nhờ đức tin, chính xác là những gì mở ra và bảo đảm cho chúng ta rằng, một con đường hoán cải và thanh tẩy đang chuẩn bị cho chúng ta mà tự sức chúng ta không thể tìm ra.

 

Mọi người đều tìm căn tính, nhân cách của mình ở tầng mức thâm sâu nhất. “Tôi là ai?”. Một đôi khi, chúng ta đau đớn đặt cho mình câu hỏi đó trong suốt cuộc đời. Chúng ta cố gắng tạo cho mình một nhân cách, lấp đầy chính mình, đeo đuổi những khát vọng... và như thế, dõi theo những tiêu chuẩn thành công được đề nghị bởi môi trường văn hóa chúng ta đang sống. Chúng ta đã dấn mình trong công việc, gia đình, các mối tương quan, bao trách nhiệm và vân vân, đôi lúc đến mức kiệt sức... Dẫu thế, một phần trong chúng ta vẫn trống rỗng, không thỏa mãn, khó hiểu: Thực sự tôi là ai? Phải chăng những gì tôi đã sống cho đến bây giờ thực sự bộc lộ tôi là ai?

 

Một khía cạnh mang tính toàn bộ của căn tính chúng ta phát sinh từ lịch sử, di truyền, những trải nghiệm và cả những quyết định... nhưng bấy nhiêu đó vẫn không phải là phần thâm sâu nhất. Phần thâm sâu nhất của chúng ta chỉ lộ ra khi tiếp xúc với Thiên Chúa, một cuộc tiếp xúc tước bỏ khỏi chúng ta mọi thứ giả tạo nơi căn tính của mình để mang mỗi người đến với những gì chúng ta thực sự là, ở trọng tâm của thân phận con người chúng ta. Căn tính đích thực của chúng ta không phải là một thực tại phải được xây dựng nên cho bằng một quà tặng được đón nhận. Nó không phải là chuyện đạt được, mà là để cho chính chúng ta được sinh ra. “Con là con của Cha, ngày hôm nay Cha đã sinh ra con” (Tv 2, 7); và “Con là con yêu dấu của Cha” (Lc 3, 22). Trong Tin Mừng Luca, những lời cuối cùng này đã được Chúa Cha nói với Đức Giêsu khi Ngài chịu phép rửa tại sông Jordan, nhưng chúng ta có thể làm cho chúng hoàn toàn thành của mình nhờ bí tích rửa tội.

 

Bản chất của căn tính chúng ta bao gồm hai thực tại mà chúng ta được mời gọi khám phá dần dần. Thật đơn giản, nhưng hai thực tại này chứa đựng một nguồn phong phú vô tận, đó là tình yêu duy nhất mà Thiên Chúa dành cho mỗi người chúng ta và tình yêu duy nhất mà chúng ta có thể dành cho Người.

 

Cầu nguyện và gặp gỡ Thiên Chúa giúp chúng ta khám phá tình yêu duy nhất Người dành cho chúng ta. Mỗi người nam cũng như nữ đều khát khao cháy bỏng một tình yêu độc nhất vô nhị. Không phải được yêu cách chung chung như những thành viên của một nhóm nào đó nhưng là cảm nhận trong sự độc đáo của mỗi người. Kinh nghiệm yêu thương này rất kỳ thú bởi nó cho chúng ta thấy được rằng: với chúng ta, một người nào đó mang một giá trị mà người khác không có; đến lượt mình, chúng ta có một giá trị độc nhất trong mắt họ.

 

Đây là điều mà tình yêu của Chúa Cha mang lại. Mỗi chúng ta có thể cảm nhận được rằng, trong mắt Thiên Chúa, chúng ta được Người yêu thương, chọn lựa theo một cách thức cực kỳ cá vị. Chúng ta thường có cảm giác rằng, Thiên Chúa yêu cách chung chung: Người yêu hết mọi người, tôi là một trong số họ, vì thế Người ít quan tâm đến tôi. Nhưng việc được yêu cách “phổ quát” như một hạng mục trong bộ sưu tập không thể thỏa mãn chúng ta. Và điều đó tuyệt đối khác với thực tại của một tình yêu cá vị, duy nhất mà Thiên Chúa Cha dành cho mỗi đứa con của Người. Mỗi người trong chúng ta đều có quyền nói rằng, “Thiên Chúa yêu thương tôi như thể Người không yêu thương ai khác trên đời này!”. Thiên Chúa không yêu hai người theo cách thức như nhau bởi vì thực sự, chính tình yêu của Người tạo nên cá vị của chúng ta, mỗi cá vị khác biệt nhau. Thánh Têrêxa Avila nói, có một sự khác biệt nơi linh hồn của người ta hơn nơi khuôn mặt của họ nhiều. Cá vị duy nhất này được biểu trưng bởi “tên mới” mà Thánh Kinh nói đến. Chúng ta đọc thấy trong sách Isaia:

 

Ngươi sẽ được gọi bằng một tên mới là tên mà chính miệng Chúa đặt cho (Is 62, 2).

 

Và trong sách Khải Huyền:

 

Ai có tai, thì hãy nghe điều Thần Khí nói với các Hội Thánh: Ai thắng, Ta sẽ ban cho manna đã được giấu kỹ; Ta cũng sẽ ban cho nó một viên sỏi trắng, trên sỏi đó có khắc một tên mới; chẳng ai biết được tên ấy, ngoài kẻ lãnh nhận (Kh 2,17).

 

Tình yêu duy nhất Thiên Chúa dành cho chúng ta bao gồm quà tặng của sự đáp trả duy nhất về phía chúng ta. Từ nhiều vị thánh, và đặc biệt từ các thánh nữ, chúng ta nghe những điều như, “Ôi Giêsu, con muốn yêu Ngài như không ai từng yêu Ngài! Con muốn làm những điều điên rồ hơn cho Ngài hơn bất cứ ai khác đã làm trước đây!”.

 

Nghĩ đến những lời như thế này, nhận ra rằng chúng ta sẽ không bao giờ làm gì hơn tất cả những ai đã đi trước chúng ta làm trong tình yêu, chúng ta cảm thấy mình nghèo nàn biết bao. Dẫu vậy, những khát vọng như thế không vô ích nhưng có thể được thỏa mãn trong đời sống mỗi người. Dầu không phải là Têrêxa Avila hay Phanxicô Assisi, chúng ta vẫn có thể trao cho Thiên Chúa (và cũng có thể trao cho anh chị em mình, Giáo Hội, thế giới) một tình yêu mà không ai đã từng trao cho họ. Chúng ta có thể trao cho họ tình yêu thuộc về chúng ta, hợp với căn tính của chúng ta, đáp lại tình yêu Thiên Chúa dành cho chúng ta và với ân sủng chúng ta nhận được từ Người. Trong trái tim Thiên Chúa, trong mầu nhiệm Hội Thánh, mỗi người đều có một chỗ duy nhất, một vai trò duy nhất không thể thay thế, một sự hữu hiệu của riêng chúng ta và không ai khác có thể đảm nhận.

 

Đón nhận sự chắc chắn kép này như hoa trái của cầu nguyện - sự chắc chắn được yêu cách độc nhất và sự chắc chắn có thể (dù những giới hạn và yếu đuối của chúng ta) yêu cách độc nhất - là một quà tặng thực sự rất quý giá. Chính điều này tạo nên cốt lõi thâm sâu nhất, vững chắc nhất nơi căn tính của chúng ta.

 

Dĩ nhiên, thực tại này vẫn mãi là một mầu nhiệm không thể lĩnh hội trọn vẹn cũng như không thể diễn tả bằng ngôn từ cách xứng hợp. Đó không phải là một cái gì để chúng ta có thể tuyên bố là của mình hay là điều chúng ta có thể tự hào. Nó phải được sống với lòng khiêm tốn và đức khó nghèo lớn lao. Đó là đối tượng của đức tin và đức cậy hơn là một sự chiếm hữu mà ta có thể vênh vang. Tuy nhiên, nó đủ chân thật và chắc chắn để mang lại cho chúng ta sự tự do và an toàn nội tâm cần thiết để chúng ta đối diện với cuộc sống một cách tin tưởng.

 

Bởi những gì chúng ta vừa bàn tới và vì nhiều lý do khác nữa, việc khám phá Thiên Chúa là Cha, hoa trái đầu mùa của sự trung thành cầu nguyện, là điều quý giá nhất trên đời, là ân ban cao quý nhất trong các ân ban của thần khí.

 

“Vì Thần Khí mà anh em đã lãnh nhận được, đâu phải là tinh thần nô lệ, khiến anh em phải sợ sệt như xưa; nhưng là Thần Khí làm cho anh em nên nghĩa tử, khiến chúng ta được kêu lên: “Abba! Cha ơi!” Chính Thần Khí chứng thực cho thần trí chúng ta rằng chúng ta là con cái Thiên Chúa” (Rm 8, 15-16)

 

Cương vị làm Cha của Thiên Chúa đối với chúng ta là thực tại sâu xa nhất, là vực thẳm sự sống và lòng thương xót phong phú nhất, khó diễn tả và cảm nhận nhất. Không nguồn hạnh phúc nào lớn hơn được làm con trai hay con gái yêu quý để sống trong tình yêu thương của người Cha này cũng như lãnh nhận chính mình và mọi sự từ sự tốt lành và lòng quãng đại của Người; tin tưởng mong chờ mọi sự, ở mọi khoảnh khắc cuộc đời, do ân ban của Người. Vỡ oà trong hạnh phúc, Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu thốt lên, “Ngọt ngào biết bao khi được gọi Thiên Chúa là Cha!”[9].

 

6. Lòng trắc ẩn đối với tha nhân nảy sinh từ cầu nguyện

 

Một trong những hoa trái tốt lành của cầu nguyện (cũng là cách thức để phân định liệu cầu nguyện có đúng đắn hay không) là nó làm cho tình yêu của chúng ta đối với tha nhân được lớn lên.

 

Nếu cầu nguyện là đích thực (điều này sẽ có nghĩa là gì sau đó), nó mang chúng ta đến gần Thiên Chúa hơn, liên kết chúng ta nên một với Người, giúp chúng ta thấy cũng như chia sẻ tình yêu vô biên Thiên Chúa dành cho mọi người do chính Người tác thành. Cầu nguyện mở rộng và làm cho con tim chúng ta nên mềm mại. Ở đâu thiếu cầu nguyện, ở đó con tim nhân loại hóa cứng và tình yêu đóng băng. Có thể nói nhiều về điều này và trích dẫn nhiều bằng chứng. Tôi lấy làm hài lòng với một bản văn tuyệt mỹ từ Thánh Gioan Thánh Giá, một bậc thầy của thần nghiệm nhưng cũng (trái với hình ảnh mà đôi lúc chúng ta hình dung về ngài) là một trong những người đàn ông dịu dàng và trắc ẩn nhất mà thế giới từng biết.

 

Thật hiển nhiên, khi tâm hồn càng nên một với Thiên Chúa, lòng trắc ẩn đối với tha nhân càng dâng tràn; càng yêu mến, chúng ta càng ước ao cũng một Thiên Chúa này được mọi người mến yêu và ca tụng; và càng khát khao điều này, chúng ta càng nỗ lực cho đạt được điều đó, cả trong cầu nguyện lẫn qua mọi phương tiện cần thiết khác mà chúng ta có thể dùng.

 

Nơi những ai được Thiên Chúa chiếm hữu, lửa nhiệt tình và sức mạnh của đức ái bùng cháy đến nỗi họ không thể kìm hãm những ước vọng hay chỉ bằng lòng với việc mưu ích cho bản thân; đúng hơn, với họ, lên thiên đàng một mình dường như quá ít ỏi, nên họ tìm cách dẫn đưa vô vàn linh hồn lên trời cùng mình với lòng khắc khoải, tình yêu cao vời và lòng tận tụy khôn nguôi. Điều này phát sinh từ tình yêu cao cả mà họ dành cho Thiên Chúa; đó là hoa trái và hiệu quả tất yếu của việc cầu nguyện và chiêm niệm trọn hảo.[10]

 

7. Cầu nguyện, đường dẫn đến tự do

 

Trung thành cầu nguyện là đường dẫn đến tự do. Cầu nguyện không ngừng dạy chúng ta tìm kiếm nơi Thiên Chúa những ân ban cần thiết mà chúng ta ước nguyện và tìm được chúng; đó là tình yêu vô biên, trường cửu, sự bình an, an toàn, hạnh phúc... như Tin Mừng bảo đảm, “Ai tìm thì sẽ thấy” (Mt 7, 8).

 

Nếu không học cách đón nhận những ân ban khẩn thiết này từ tay Thiên Chúa, chúng ta có nguy cơ đi tìm chúng ở nơi khác hoặc chờ mong những gì từ thế giới này (tiền bạc, công việc, tương quan), những gì vốn không thể trao ban những điều khẩn thiết trên.

 

Các mối tương quan của chúng ta với tha nhân, với người khác... thường làm chúng ta thất vọng, một đôi khi không nhận ra điều đó, chúng ta cứ mong chờ từ họ những điều mà họ không thể đáp ứng. Từ những tương quan thân thiết đó, chúng ta chờ mong hạnh phúc tuyệt đối, lòng biết ơn trọn vẹn, và sự an toàn hoàn hảo. Thế mà, không thực tại trần thế nào, không người nào, không hoạt động nào, có thể hoàn toàn thỏa mãn những nỗi mong chờ đó. Khi chúng ta mong chờ quá nhiều mà chẳng nhận được bao nhiêu, chúng ta trở nên cay đắng, thất vọng và rốt cuộc, cảm thấy gay gắt bực bội với những người không đáp ứng mong chờ của chúng ta. Đó không phải do lỗi của họ nhưng chỉ vì ước vọng của chúng ta không hợp lý. Chúng ta muốn có được từ người khác điều mà duy chỉ Thiên Chúa mới có thể trao ban.

 

Khi nói điều này, tôi không có ý loại trừ những mối tương quan liên vị hay những phạm vi hoạt động phong phú của con người. Tôi có niềm tin mạnh mẽ đối với tình yêu, tình bạn, tình bằng hữu, tất cả những gì chúng ta có thể nhận được từ nhau trong những mối quan hệ hỗ tương. Gặp gỡ ai đó và những mối liên hệ nảy sinh với họ đôi khi có thể là một ân huệ lớn lao từ Thiên Chúa. Có những lúc Thiên Chúa hài lòng với việc tỏ cho chúng ta tình thương của Người ngang qua một tình bạn hay sự quan tâm của một ai đó mà Người đặt trên đường đời của chúng ta. Thế nhưng, điều quan trọng là Người phải ở vị trí trọng tâm và chúng ta không có quyền đòi hỏi một ai đó vốn nghèo khó, giới hạn và bất toàn cung cấp cho chúng ta những gì mà duy chỉ Thiên Chúa mới có thể thực sự trao ban.

 

Tôi cũng không có ý tuyên bố rằng những ân huệ vừa đề cập trước đây (bình an, hạnh phúc, an toàn .v.v...) được ban ngay khi chúng ta bắt đầu cầu nguyện. Dẫu vậy, vẫn đúng đắn khi nói, trung thành cầu nguyện là một phương thế cụ thể diễn tả sự kiện rằng, chúng ta ngước nhìn lên Thiên Chúa để Người ban cho mình những điều này trong một chuyển động của đức tin và đức cậy, và những gì được mong chờ và hy vọng từ lòng nhân từ của Người sẽ được ban cho chúng ta từ ngày này sang ngày khác. Đây là nguyên tắc căn bản giúp thiết lập cân bằng tương quan giữa người với người, đồng thời ngăn ngừa việc đòi hỏi nơi người khác điều mà họ không thể đáp ứng vốn đôi lúc có thể gây ra những hậu quả khôn lường.

 

Thiên Chúa càng ở trung tâm đời mình, chúng ta càng chờ mong mọi sự từ Người và duy chỉ từ Người; cùng lúc, các mối tương quan với tha nhân lại càng có cơ may trở nên quân bình và hạnh phúc.

 

Mong chờ ở bất cứ một thực tại nào khác điều mà duy một mình Thiên Chúa mới có thể tặng ban được truyền thống Thánh Kinh gọi là thờ ngẫu tượng. Không nhận ra điều này, chúng ta có thể dây mình vào bao ngẫu tượng khác nhau: một người, một việc, một bằng cấp, một thành công, một tình yêu, một thú vui nào đó .v.v...  Tự chúng, những điều này là tốt, nhưng với điều kiện chúng ta không đòi hỏi chúng vượt quá ngưỡng đó. Việc thờ ngẫu tượng luôn luôn làm chúng ta mất đi một phần tự do. Ngẫu tượng gây thất vọng; chúng ta thường đi đến chỗ căm ghét những gì mình đã từng tôn thờ. Chỉ Thiên Chúa mới không bao giờ làm chúng ta thất vọng. Người sẽ dẫn chúng ta trên những nẻo đường mới lạ, và có thể lắm chông nhiều gai, nhưng Người sẽ đáp ứng mọi nỗi mong chờ của chúng ta, “Hồn con an nghỉ trong mình Chúa thôi” (Tv 62, 1).

 

Kinh nghiệm dạy chúng ta điều này. Việc trung thành cầu nguyện sẽ ngày càng dẫn chúng ta tìm thấy nơi Thiên Chúa sự bình an sâu lắng, an toàn và hạnh phúc, đồng thời cho chúng ta được tự do trong tương quan với tha nhân... cả khi phải trải qua những giai đoạn khó khăn, những thời khắc khô khan và thử thách... Tìm được hạnh phúc và bình an trong Thiên Chúa, chúng ta sẽ trao ban cho tha nhân nhiều điều, đang khi sẵn sàng chấp nhận tất cả những gì làm nên chính con người của họ mà không chống lại họ khi họ không thỏa mãn ước mong của chúng ta. Thiên Chúa là đủ.

 

Tôi xin nói thêm rằng, kinh nghiệm tìm thấy hạnh phúc trong cầu nguyện, thậm chí là một niềm vui thú nào đó, làm cho chúng ta tự do hơn đối với cuộc kiếm tìm không ít bồn chồn những thỏa mãn từ phía con người, một cơn cám dỗ thường xuyên mà chúng ta phải đối mặt. Thế giới chúng ta đang chịu đựng một sự trống trải thiêng liêng nghiêm trọng, và khoảng không nội tâm này đang đẩy con người vào một cuộc tìm kiếm điên cuồng những thỏa mãn giác quan. Tôi không bác bỏ những thú vui hợp lý của cuộc sống - một bữa ăn ngon, một chai Bordeaux, một cuộc đi bơi thư thái. Đây là những quà tặng Chúa ban; tốt hơn, hãy tận dụng chúng cách điều độ. Thi thoảng, người ta có một nhu cầu vô độ khi muốn nếm trải những cảm xúc, cảm giác lạ hoặc cảm giác mạnh; và nhu cầu này có thể dẫn đến những lệch lạc hủy hoại khi người ta chạy theo tình dục, nghiện ngập .v.v... Việc chạy theo những cảm giác mạnh hơn thường dẫn đến bạo lực vốn không thể kìm hãm được.

 

Khi ý nghĩa cuộc sống trở nên trống rỗng, người ta tìm cách thay thế nó bằng cảm giác và cảm xúc. Một quảng cáo xe hơi gần đây hô hoán, “Hãy thỏa mãn cảm giác của bạn”. Nhưng đó là đường cùng, chẳng mang lại điều gì ngoài thất vọng, thậm chí hủy hoại bản thân và bạo lực. Cả ngàn sự thỏa mãn cũng không thêm gì cho hạnh phúc.

 

Tôi xin đưa ra nhận định cuối cùng về vấn đề cầu nguyện vốn như một con đường dẫn đến tự do. Như tôi sẽ giải thích sau này, trung thành cầu nguyện giúp chúng ta dần dần cảm nghiệm rằng, kho báu đích thực của chúng ta ở bên trong chúng ta. Chúng ta mang trong mình Nước Trời và hạnh phúc Nước Trời. Khám phá này khiến chúng ta thanh thoát hơn đối với của cải trần thế, dần dà giải thoát chúng ta khỏi những đòi hỏi điều này điều kia một cách thái quá - những khuynh hướng nhất thời đổ đầy cuộc đời chúng ta biết bao của cải vật chất... mà rốt cuộc làm cho lòng chúng ta chùng xuống và hóa đá.

 

8. Cầu nguyện thống nhất đời sống
chúng ta

 

Theo thời gian và lòng trung thành, cầu nguyện tỏ ra là một “yếu tố thống nhất” đời sống chúng ta. Khi gặp gỡ Thiên Chúa, chúng ta tin tưởng đặt vào đôi tay đầy tình phụ tử của Người mọi điều vốn làm nên đời sống hằng ngày của mình, với mọi biến cố và hoàn cảnh khác nhau, mọi vấn đề có thể nói là “được tiêu hóa” dần dần - loại bỏ những xáo trộn để thống nhất, trật tự và mạch lạc. Rồi đời sống của chúng ta tìm thấy sự thống nhất thâm sâu. Thiên Chúa là Đấng Duy Nhất, chính Người thống nhất tâm hồn, nhân vị và toàn bộ đời sống chúng ta.

 

Thánh Vịnh 86 dâng Chúa lời cầu xin thống thiết này; “Xin Chúa hướng lòng con, để con biết một niềm kính tôn Danh Thánh” (c.11). Nhờ cuộc gặp gỡ thường xuyên với Thiên Chúa trong cầu nguyện, mọi sự cuối cùng trở nên tích cực: ước muốn, thiện chí, nỗ lực và cả sự nghèo túng, lỗi lầm và tội lỗi của chúng ta. Những tình huống khiến chúng ta buồn hay vui, quyết định tốt hay xấu, mọi sự được “tóm kết” trong Đức Kitô và trở nên ân sủng. Mọi sự trở nên ý nghĩa, đồng thời góp phần làm cho tình yêu được lớn lên. Khi trích dẫn Thánh Gioan Thánh Giá, Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu trần tình rằng, “Tình yêu quá mãnh liệt trong các công trình đến nỗi nó có thể sinh ích từ mọi lành dữ tốt xấu mà nó tìm thấy trong tôi”.[11]

 

Trong câu chuyện về thời thơ ấu của Chúa Giêsu, Tin Mừng Luca nói về Đức Mẹ như sau, “Đức Maria ghi nhớ những điều đó và suy đi nghĩ lại trong lòng” (Lc 2, 19), “và Mẹ Ngài ghi nhớ những điều này trong lòng” (Lc 2, 51). Tất cả những gì Đức Maria trải qua - những ân sủng mà Mẹ lãnh nhận, những lời Mẹ nghe, những sự kiện Mẹ trải nghiệm, dù tràn ngập ánh sáng, đau khổ hay khó hiểu - Mẹ đều giữ lại trong lòng và trong cầu nguyện. Và như thế, mọi sự trở nên có ý nghĩa, không phải qua một tiến trình phân tích theo kiểu trí thức nhưng qua việc cầu nguyện nội tâm. Mẹ không trầm ngâm suy nghĩ mọi sự trong đầu, nhưng giữ chúng trong một tâm hồn tín thác, cầu nguyện của Mẹ, nơi mọi sự, rốt cuộc, tìm thấy đúng chỗ của mình, được thống nhất và trở nên giản dị.

 

Trái lại, nếu không trung thành giữ lấy các cuộc hẹn cho việc cầu nguyện, đời sống chúng ta có nguy cơ không bao giờ đạt được bất cứ ý nghĩa mạch lạc nào. Chúa Giêsu cảnh giác: “Ai không tụ tập với tôi thì phân tán” (Mt 12, 30; Lc 11, 23).

 

 

 

[1]. Novo Millennio Ineunte, số 32.

 

[2].  Poems, 17.

 

[3]. Maxim 110 (hay 169), Sayings of Light and Love.

 

[4]. Một tu sĩ Đaminh (1903-1980) được ban cho các đặc ân thần nghiệm lớn lao, nhưng chịu sự thất vọng nghiêm trọng, sâu xa trước khi khôi phục sự cân bằng và bình an tâm trí, và sống những ngày còn lại như một nhà ẩn tu. Xem Christiane Sanson, Marie de la Trinité, de l’angoisse à la paix (Parí: Cerf, 2005).

 

[5]. Marie de la Trinité, Entre dans ma Gloire (Paris: Arfuyen, 2003), 74.

 

[6]. Được trích bởi E. Renault, Ste Thérèse d’Avila et l’expérience mystique (Paris: Seuil, 1970), (Spiritual Masters series), 126.

 

[7]. The Interior Casle, “The Fifth Mansions,” ch.1.

 

[8]. Maxim 8 (or 1), Sayings of Light and Love.

 

[9]. Do Soeur Celine, Chị của Thánh nữ ghi lại: Conseils et souvenirs, recueillis par Soeur Geneviève de la Sainte-Face, soeur et novice de sainte Thérèse de l’En- fant-Jésus (Paris: Cerf, 1979).

 

[10]. John of the Cross, Dictamenes de espíritu, collected by Padre Eliseo de los Martires.

 

[11]. Thủ Bản A, 83 recto