Home
Printer-friendly versionSend by email
-A A +A

02 Chương II

Tác giả: 
Lm Minh Anh

CHƯƠNG II

 

Những Điều Kiện Để
Cầu Nguyện Hiệu Quả

 

Chính Thầy đã chọn anh em,

và cắt cử anh em để anh em ra đi,

sinh được hoa trái,

và hoa trái của anh em tồn tại.

Ga 15, 16

 

Trong chương II này, tôi giải đáp cho câu hỏi sau đây: Điều gì sẽ mang lại cho đời sống cầu nguyện của chúng ta một cuộc gặp gỡ Thiên Chúa đích thực và nhờ đó, trổ sinh hoa trái dồi dào và bền bỉ?

 

Trong lời tựa cuốn Đường Lên Núi Carmel, Thánh Gioan Thánh Giá có nói một điều gì đó khá gây sửng sốt:

 

Có nhiều linh hồn nghĩ mình không cầu nguyện, vậy mà họ cầu nguyện rất nhiều; trái lại, những linh hồn khác nghĩ mình cầu nguyện nhiều nhưng lại rất ít.

 

Nói cách khác, có những người nghĩ mình cầu nguyện lôi thôi nhưng thực sự, họ cầu nguyện rất tốt; đang khi, những người khác tưởng mình cầu nguyện tốt nhưng họ lại cầu nguyện rất tệ!

 

Vậy phải giải thích sự khác biệt này làm sao? Cái gì sẽ là tiêu chuẩn?

 

Thật không dễ để phân định, lượng định chất lượng đời sống cầu nguyện của ai đó. Đặc biệt không phải đời sống cầu nguyện của chính chúng ta! Dẫu thế, tôi cũng mạo muội nói đôi điều về chủ đề tế nhị này, bởi đó là một vấn đề quan trọng.

 

Để phân định đời sống cầu nguyện của mình, chúng ta có thể bắt đầu từ hai điểm xuất phát khác nhau: hoa trái của cầu nguyện và cách thức chúng ta bắt đầu cầu nguyện. Tôi sẽ lần lượt bàn về hai khởi điểm này.

 

1. Cầu nguyện, nơi tìm lại bình an nội tâm

 

Chúa Giêsu dạy trong Tin Mừng, “Xem quả thì biết cây” (Mt 12, 33). Nếu chúng ta cầu nguyện thực sự, cầu nguyện sẽ trổ sinh hoa trái: nó sẽ giúp chúng ta khiêm tốn hơn, tử tế hơn, kiên nhẫn hơn, đáng tin hơn .v.v... Cầu nguyện sẽ làm trổ sinh trong đời sống của chúng ta mọi “hoa quả của thần khí. Thánh Phaolô đã liệt kê trong thư gửi tín hữu Galát, “bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hòa, tiết độ”.

 

Trên hết, cầu nguyện đích thực sẽ làm cho chúng ta yêu mến Thiên Chúa và tha nhân nhiều hơn. Bác ái là hoa trái và là tiêu chuẩn tối thượng của mọi đời sống cầu nguyện. Thánh Phaolô xác quyết một cách mạnh mẽ, “Nếu không có đức ái thì tôi chẳng là gì” (1Cr 13, 1-3).

 

Nếu không muốn phủ nhận ưu tiên tuyệt đối của tiêu chuẩn này (dù tôi sẽ hỏi: có thể đo lường mức độ của tình yêu chúng ta không?), thì tôi tin rằng, vì mục đích thực tế, chúng ta sẽ không sai lạc nếu lấy bình an làm tiêu chuẩn.

 

Đời sống cầu nguyện của người ta có thể nói một cách căn bản là “đang đúng hướng” nếu họ cảm nghiệm chúng như là một nơi thanh tịnh, một nơi chốn, ở đó, họ tìm thấy bình an. Họ có thể nói:

 

Việc cầu nguyện của tôi chẳng ra hồn, còn lâu tôi mới trở thành nhà thần nghiệm vĩ đại, tôi thường chia trí và khô khan; hầu như mọi lúc tôi không cảm nhận gì nhiều và hầu chắc không dám tuyên bố mình đã đạt đến đỉnh cao của đời sống thiêng liêng. Dẫu vậy, tôi nhận ra rằng, với tôi, việc giữ đúng những cuộc hẹn thường xuyên với Chúa mang lại cho tôi sự bình an trong tâm hồn. Sự bình an này không phải là điều tôi luôn cảm nhận với một cường độ như nhau, nhưng thường, nó là kết quả của những lần tôi cầu nguyện.

 

Những lần cầu nguyện này khiến tôi bình thản hơn, tin tưởng hơn, đẩy lùi những vấn đề và những lo toan và không bị tổn thương nghiêm trọng khi những khó khăn ập xuống...Và tôi cảm nhận rằng, sự bình an này, sự thanh thản này không phải là hoa trái của việc suy tư hay nỗ lực tâm lý của tôi, mà là quà tặng, là ân ban. Đôi lúc nó đến bất ngờ: tôi có thể có mọi lý do để trở nên căng thẳng và đột nhiên tâm hồn tôi lãnh nhận một cảm giác bình thản mà tôi biết rõ là không do tôi tạo ra. Nó đến từ Một Ai khác.

 

Nếu suy nghĩ cẩn thận về điều này, chúng ta sẽ thấy rằng nó không thể nào khác: Thiên Chúa là đại dương, là suối nguồn bình an. Nếu việc cầu nguyện của chúng ta chân thành và nó thực sự dẫn chúng ta đi vào hiệp thông với Thiên Chúa, thì một phần bình an của Người có thể được thông ban cho chúng ta. Cha Matta El Maskine, người tạo nên cuộc canh tân dòng tu hiện thời nơi những người Copt ở Ai Cập[1] thổ lộ, “Cầu nguyện biến chúng ta thành quà tặng bình an hoàn toàn mới ngày mỗi ngày”.

 

Nơi Thiên Chúa, có một sức sống căng tràn mà chúng ta không thể nào đo được sức mạnh của nó “Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh em, là một ngọn lửa thiêu” (Đnl 4, 24). Đồng thời, trong vị Thiên Chúa này, có một sự êm dịu và bình an sâu thẳm vô biên, mà phần nào đó đổ xuống trên tâm hồn chúng ta khi chúng ta khiêm tốn mở lòng ra để đón nhận sự hiện diện của Người, “Hỡi những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến với tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng” (Mt 11, 28),  “Và bình an của Thiên Chúa, bình an vượt lên trên mọi hiểu biết, sẽ giữ cho lòng trí anh em được kết hợp với Đức Kitô Giêsu” (Pl 4, 7).

 

Bình an nội tâm này là một quà tặng quý giá, bởi chính trong hương thơm của nó, đức ái lớn lên. Bình an này làm cho chúng ta sẵn sàng trước công việc của ân sủng, giúp chúng ta phân định những hoàn cảnh và những quyết định cần đưa ra. Rõ ràng sự bình an này không luôn được trải nghiệm như nhau; thông thường, trong lãnh vực này, chúng ta cảm nhận một cái gì đó thăng trầm qua những thời kỳ thử thách, trong đó, chúng ta cảm thấy mình phải băn khoăn lo lắng và không dễ dàng thoát khỏi nó.

 

Nhưng quan điểm của tôi vẫn đúng: Trên bình diện tổng quát và về lâu về dài, nếu chúng ta cảm nghiệm đời sống cầu nguyện của mình là nguồn bình an nội tâm thường xuyên, thì đó là một dấu hiệu tốt.

 

Trái lại, nếu không có những trải nghiệm đó, chúng ta phải tự tra vấn mình. Đây là dấu hiệu chúng ta không cầu nguyện đủ hoặc tâm tính của chúng ta chưa phù hợp. Trong những trường hợp như thế, đối với tôi, chúng ta cần mở lòng mình ra với một người đồng hành thiêng liêng hay một vị linh hướng.

 

Để kết luận, tôi muốn nói thêm rằng, một trong những hoa trái quý giá nhất của cầu nguyện là sự tinh tuyền nơi tâm hồn. Cầu nguyện có khả năng lớn lao trong việc thanh luyện nội tâm. Trong cầu nguyện, tâm hồn được lắng đọng, trở nên giản dị và quy về Thiên Chúa. Tâm hồn tinh tuyền là gì nếu không phải là hoàn toàn quy hướng về Thiên Chúa với lòng khát khao đầy tín thác; đó là yêu mến Người cách chân thành và thực thi ý Người?

 

2. Những tâm tính làm cho cầu nguyện
có hiệu quả

 

Bây giờ chúng ta hãy giải quyết vấn nạn biện phân sự chân thành của cầu nguyện từ một góc độ khác: không phải hoa trái cầu nguyện mang lại nhưng là cách thức chúng ta bắt đầu cầu nguyện.

 

Điểm đầu tiên (xuất phát từ những gì tôi sẽ bàn sau, nhưng cần nhấn mạnh ở đây): sự trung thành phải là giá trị chính của cầu nguyện. Đức Giêsu không đòi hỏi chúng ta cầu nguyện sốt sắng, mà là cầu nguyện liên lỉ.

 

Lòng trung thành (dĩ nhiên, không chỉ là một thói quen, mà còn được thôi thúc bởi một ước nguyện chân thành là tìm gặp Thiên Chúa, làm vui lòng Người và yêu mến Người) sẽ mang lại tất cả những gì còn lại. Cuộc chiến cam go nhất trong cầu nguyện là sự kiên trì. Như thánh Têrêxa Avila lưu ý, ma quỷ tìm mọi cách có thể để làm cho các linh hồn bỏ cầu nguyện, bằng mọi lý do xác đáng hay tưởng tượng: vô ích, bạn không xứng đáng để cầu nguyện, chỉ mất thời giờ, bạn sẽ cầu nguyện tốt hơn nếu để qua ngày mai, có một điều khẩn cấp bạn thực sự cần làm; bỏ lỡ chương trình truyền hình tuyệt diệu đó thì thật xấu hổ, người ta sẽ nghĩ thế nào về bạn .v.v...Thánh Têrêxa giải thích, theo lẽ tự nhiên, ma quỷ sẽ phát động một cuộc chiến gay gắt với chúng ta về điểm này, vì ai trung thành cầu nguyện thì gần như chắc chắn nó phải đánh bại. Người đó vẫn có thể ngã quỵ thường xuyên, nhưng sau mỗi lần ngã, họ sẽ được ơn đứng lên có khi còn cao hơn trước đó.

 

Để đạt được mục đích này, ma quỷ thật khôn khéo khi không dùng những chiêu bài nửa vời! Dẫu là tên dối trá, nó vẫn biết những linh hồn kiên trì cầu nguyện sẽ bị nó đánh bại, và những thất bại mà nó gây ra chỉ giúp họ, với ơn Chúa, vực dậy cao hơn trước và phụng thờ Thiên Chúa sốt sắng hơn: vì thế nó kiên quyết bám vào điểm này.[2]

 

Vì thế, thánh nữ mời gọi chúng ta kiên trì cầu nguyện, dù điều gì xảy ra hay đã xảy ra, dù khó khăn hay gặp người bất đồng, dù đạt được mục đích hay ngã gục trên đường, dù mất can đảm để vượt qua những thử thách của hành trình hoặc cho thế giới chung quanh sụp đổ![3]

 

3. Việc cầu nguyện được sống động nhờ đức tin, đức cậy, đức mến

 

Ý tưởng tôi sắp triển khai thật đơn giản nhưng hết sức quan trọng, nó có thể cung cấp cho chúng ta một số biển báo có giá trị trên lộ trình của riêng mỗi người, đặc biệt khi đương đầu với những khó khăn trong đời sống cầu nguyện. Ý tưởng đó là thế này: Việc cầu nguyện của chúng ta sẽ tốt đẹp và hiệu quả nếu được xây dựng trên đức tin, đức cậy và đức mến. Việc cầu nguyện sẽ được hỗ trợ bởi việc thực hành ba “nhân đức đối thần” này theo như cách gọi trước đây[4] cũng như Thánh Kinh luôn cho thấy tầm quan trọng của ba nhân đức này (đặc biệt trong giáo huấn của Thánh Phaolô), bởi chính các nhân đức này thúc đẩy đời sống của các tín hữu.[5]

 

Sau khi quyết định dành thời giờ cho việc cầu nguyện riêng, chúng ta có thể bắt đầu bằng nhiều cách khác nhau: suy niệm một đoạn Thánh Kinh; đọc chậm rãi một Thánh Vịnh; chuyện trò tự do với Chúa; để cho tâm hồn hát ca; lần hạt Mân Côi hay dùng một hình thức cầu nguyện lặp đi lặp lại nào đó; chỉ ở đó trước mặt Chúa mà không nói gì với thái độ sẵn sàng và tôn thờ .v.v...Chúng ta sẽ trở lại với những phương thế khác nhau này sau... điều quan trọng ở đây là làm sao có thể tự do sử dụng chúng cho phù hợp với mình nhất ở một điểm đã chọn.

 

Tuy nhiên, vấn đề không nằm ở phương pháp đặc biệt nào sẽ được sử dụng, nhưng cốt ở chỗ chúng ta xác định những định hướng căn bản của tâm hồn khi cầu nguyện. Chính những định hướng bên trong này, chứ không phải một kỹ thuật hay một hình thức cầu nguyện đặc biệt nào đó bảo đảm hiệu quả của đời sống cầu nguyện.

 

Rốt cuộc, vấn đề là khi bắt đầu cầu nguyện, khi bắt đầu dùng phương pháp này hay phương pháp kia để cầu nguyện, chúng ta đặt mọi sự trên nền tảng định hướng của mình là đức tin, đức cậy và đức mến.

 

4. Cánh cửa đức tin

 

Cầu nguyện nhất thiết là một hành vi đức tin, thậm chí còn là phương thế trước nhất và tự nhiên nhất để diễn tả đức tin. Nếu ai đó bảo, “Tôi tin Chúa, nhưng tôi không cầu nguyện”, bạn có quyền hỏi người đó rằng, “Bạn tin vào vị Chúa nào? Vậy nếu vị Chúa mà bạn tin là Thiên Chúa của Thánh Kinh, Thiên Chúa hằng hữu, Thiên Chúa của Abraham, Isaac, và Giacóp, vị Thiên Chúa mà Đức Giêsu đã thức suốt đêm để cầu nguyện với Người, gọi Người là ‘Cha!’ - thì làm sao bạn không ít nhiều khao khát trò chuyện với Người?”.

 

Đức tin được biểu lộ, canh tân, thanh luyện và củng cố khi được thực hành trong cầu nguyện. Cả khi không nhận ra điều đó (như ông Jourdain trong hài kịch Le Bourgeois Gentilhomme, người nói nhạt phèo cả đời mà không biết) ngay khi chúng ta bắt đầu cầu nguyện, thì chúng ta vẫn thực hiện một hành vi đức tin rằng, Thiên Chúa hiện diện, thật đáng để trò chuyện với Người, lắng nghe Người; Người yêu thương chúng ta, cho nên dành thời gian cho Người quả là một điều hữu ích .v.v... Mọi lời cầu nguyện đều gói gọn trong một hành vi đức tin vốn không trông thấy nhưng hết sức nền tảng.

 

Quả là một nguồn khuyến khích biết bao khi biết rằng chính hành vi đức tin này giúp chúng ta nên một với Thiên Chúa. Thánh Gioan Thánh Giá bảo rằng, “Càng có đức tin, linh hồn càng nên một với Chúa”.[6] Điều làm nên sự kết hiệp với Thiên Chúa không phải là cảm giác hay quá trình suy tư, nhưng là đức tin. Chúng ta hãy xét xem tại sao như vậy.

 

5. Vai trò của cảm xúc trong đời sống
cầu nguyện

 

Khả năng cảm nhận, biểu lộ cảm xúc của con người là một khả năng quý giá và không việc gì phải xem thường khả năng đó. Có khả năng để cảm nhận, phản ứng, xúc động và sôi sục nội tâm là một phần thiết yếu của con người. Thậm chí tôi dám khẳng định rằng, cảm giác và cảm xúc đóng một vai trò không thể thiếu trong đời sống thiêng liêng. Nếu chúng ta chưa bao giờ cảm nếm sự hiện diện của Thiên Chúa và sự trìu mến của Người, Người vẫn xa lạ, cách biệt, trừu tượng hoặc như một ý niệm thuần tuý đối với chúng ta.

 

Rất thông thường, gần đây, trong đời sống Giáo Hội, các tín hữu đã bất lực trong việc dành một vị trí xứng đáng cho khả năng cảm nhận của mình. Một trong các Thánh Vịnh mời gọi chúng ta “Hãy nghiệm xem Chúa tốt lành biết mấy” (Tv 34, 8). Chúng ta có quyền xin ơn tri giác để có thể cảm nếm một điều gì đó từ mầu nhiệm Thiên Chúa, cảm nhận những chân lý đức tin... bằng các giác quan và những cảm xúc thể lý; bằng không, chúng ta không thể hiểu cũng như không thể đem chúng vào trong đời sống một cách năng động. Mọi phương thức cầu nguyện và suy gẫm kích hoạt giác quan và phát huy khả năng xúc động của con người đều hoàn toàn đúng đắn và hợp lý. Tôi nghĩ đến các nhà thờ bên trời Tây giờ đây trơ trọi, một phần, cũng là do các buổi cử hành quá lạnh nhạt và dài dòng vốn không thể khơi dậy một cảm xúc nào khác hơn là sự nhàm chán. Còn quá nhiều điều phải làm để đời sống Giáo Hội, đặc biệt trong phụng vụ, có một vẻ đẹp và sốt sắng được cảm nhận cách mạnh mẽ vốn có thể chạm đến cõi lòng người ta.

 

Dẫu vậy, chúng ta cũng cần nhận ra những giới hạn của cảm giác. “Cảm nếm Thiên Chúa” là điều không thể thiếu, nhưng những gì chúng ta cảm nếm về Thiên Chúa lại chưa phải là Thiên Chúa. Thiên Chúa lớn lao hơn vô cùng, vượt xa vô vàn những gì chúng ta có thể nhận thức ngang qua những tình cảm. Và việc theo đuổi những tình cảm tự nó có thể là một kết thúc. Nó có thể dẫn đến tham lam, bám víu, và thiếu tự do. Khả năng cảm nhận của chúng ta cần được thanh luyện. Cầu nguyện là gặp gỡ Thiên Chúa chứ không chỉ là những cảm giác mà sự hiện diện của Thiên Chúa gợi lên nơi chúng ta. Vì thế, chúng ta phải tự nhận rằng, một đôi khi, chúng ta cảm thấy trống rỗng, khô khan và vô vị. Những lúc như thế, chúng ta phải nhớ, điều quan trọng không phải là những gì chúng ta cảm nhận, nhưng là điều chúng ta tin. Hành vi đức tin vượt xa mọi cảm xúc của chúng ta và thật sự giúp chúng ta gặp gỡ Thiên Chúa ngay cả khi chúng ta hoàn toàn trống trơn và tâm hồn khô cằn tựa sa mạc Sahara không có lấy một giọt sốt sắng.

 

Một ý tưởng khác liên quan đến những gì đã nói trước đây về cầu nguyện như là đường dẫn đến tự do. Mặc cho những khô khan, việc trung thành cầu nguyện và kiên trì thực hành đức tin trong cầu nguyện sẽ dần dần giúp chúng ta tự do thanh thoát đối với những cảm xúc. Sau đó, những cảm giác và cảm xúc này có thể được vận hành trở lại một cách tràn đầy, thậm chí, có thể đánh thức những khả năng đang ngủ yên cho đến giờ này... để từ đó, những cảm xúc mới mẻ có thể rung lên trong tâm hồn chúng ta (“các hợp âm chìm vào quên lãng cho đến lúc này”, như Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu mô tả),[7] mà không nô lệ hay phụ thuộc chúng. Nền văn hóa hiện đại thúc ép người ta để cho mình bị cai trị duy bởi những cảm giác và điều đó dẫn đến biết bao biểu hiện thiếu trưởng thành và thậm chí nô lệ. Chẳng hạn khi tương quan của chúng ta với người khác chỉ dựa trên vui thú mà họ trao ban thì các mối tương quan đó hoàn toàn trẻ con. Tự do đích thực cốt tại yêu thương họ, dù họ làm ta hài lòng hay không làm ta hài lòng; trung thành cầu nguyện bất cứ giá nào là bài luấn luyện có giá trị về cảm giác này.

 

6. Vai trò và những giới hạn của trí óc

 

Chúng ta có thể nói điều tương tự về trí năng của mình. Lý trí đóng một vai trò nền tảng trong đời sống con người và đời sống thiêng liêng; đức tin không thể hoạt động mà không có lý trí. Chúng ta phải làm những gì có thể để hiểu những gì chúng ta tin với sự thông minh của mình, bởi lẽ trí óc chúng ta cần lãnh hội nội dung đức tin. Đó là mục đích của thần học. Càng hiểu điều mình tin, đức tin càng trở nên ánh sáng và sức mạnh cho chúng ta. Ngoài ra, trong đời sống cầu nguyện, chúng ta sẽ thường đón lấy những luồng sáng soi rọi trí năng trong nhiều lĩnh vực: một sự hiểu biết những khía cạnh nào đó của mầu nhiệm Thiên Chúa, nhận biết cách sống động con người Đức Kitô hay ý nghĩa của thân phận con người .v.v... Đôi khi chúng ta sẽ được soi chiếu bởi những luồng sáng tuyệt diệu và giá trị về ý nghĩa của một cụm từ hay một đoạn Thánh Kinh đặc biệt nào đó. Ngoài rọi soi phổ quát về nội dung đức tin, tâm trí chúng ta còn được soi chiếu một cách đặc thù với những biến cố trong đời: Phải chọn lựa làm sao? Trước những hoàn cảnh, đâu là quy tắc? Khuyên bảo thế nào cho một ai đó? .v.v...

 

Mỗi khi tâm trí được soi sáng như thế, thì nó là một quà tặng quý giá và chúng ta cần làm hết sức có thể để sống đức tin của mình một cách khôn ngoan, sử dụng các khả năng suy tư, nhận thức, phân tích và những gì còn lại. Chúng ta phải cầu xin và tìm kiếm những soi dọi khai mở trí năng. Quả thực, chúng ta không thể làm gì mà không có chúng. Một đầu óc lười biếng và một sự sống động thiêng liêng không sánh đôi cùng nhau được.

 

Tuy nhiên, chúng ta cũng cần biết rằng, trí năng có những giới hạn của nó. Nhận biết những chân lý về Thiên Chúa là một điều tốt, nhưng chúng ta phải nhớ rằng, mọi điều chúng ta nhận biết về Thiên Chúa thì vẫn không phải là Thiên Chúa. Thiên Chúa vượt xa vô cùng tất cả những gì tâm trí chúng ta có thể hình dung hay nắm bắt. Không một quan niệm nào về Thiên Chúa thực sự tương ứng với những gì định nghĩa về Người.

 

Ôi, sự giàu có, khôn ngoan và thông suốt của Thiên Chúa sâu thẳm dường nào! Quyết định của Người, ai dò cho thấu! Đường lối của Người, ai theo dõi được![8]

 

Trí tuệ có thể mang chúng ta đến gần Thiên Chúa hơn, nhưng nó không dẫn chúng ta đến với những gì Thiên Chúa thực sự là Người nơi chính Người. Chỉ có đức tin mới có thể làm điều đó. Ở một số điểm nào đó trong đời sống Kitô hữu, trí óc chúng ta cần lặng thinh và thừa nhận sự bất lực của mình. Vào cuối đời mình, nhà thần học vĩ đại nhất trong lịch sử Giáo Hội, Thánh Tôma Aquinô, đã nhận ra rằng, tất cả những gì ngài viết đều chỉ là rơm rác.

 

Điều đó thật bình thường, thậm chí cần thiết, vì trong hành trình của đời Kitô hữu, đặc biệt trong đời sống cầu nguyện, trí năng của chúng ta một đôi khi cảm thấy mình rơi vào trong một khoảng tăm tối nào đó. Đối với những vấn nạn liên quan đến đức tin, đến mầu nhiệm Thiên Chúa, hay ngay cả ý nghĩa của biến cố này biến cố nọ xảy ra trên thế giới hoặc kinh nghiệm cá nhân, một đôi khi tâm trí chúng ta hoàn toàn rơi vào ngõ cụt. Điều này khiến chúng ta băn khoăn bởi việc không hiểu một vấn đề nào đó luôn tạo nên một cảm giác thất vọng. Nhưng điều này không thể tránh khỏi. Vậy quả là hữu ích khi nhớ rằng, không phải trí năng nhưng chính đức tin dẫn chúng ta đến với Thiên Chúa và chân lý sâu xa về cuộc đời mình và thế là đủ cho chúng ta cả khi trí năng của chúng ta đang ngắc ngoải.

 

Những lần tăm tối này cần thiết cho việc thanh luyện và tinh lọc tâm trí. Sự kiện là nhiều điều sẽ xảy ra như thế với tâm trí, với ước ao hiểu biết của chúng ta. Như vậy, cần có một sự giải thoát đối với tính hiếu kỳ, kiêu hãnh, tự mãn và khát vọng quyền lực (hiểu là thống trị) cũng như một sự tìm kiếm an toàn (hiểu là làm chủ và kiểm soát).

 

Thế mà, để biết được mọi sự, trước tiên chúng ta phải trải qua một giai đoạn mù tịt nào đó... Chúng ta sẽ không thực sự lớn lên về mặt con người hay thiêng liêng nếu trí năng không trải qua những lúc bị hạ nhục một cách đau đớn.

 

Phải nhận ra rằng, suy tư và suy nghĩ có thể mang chúng ta đến gần Thiên Chúa hơn, chúng có thể là con đường dẫn đến Thiên Chúa, nhưng chúng không thể trao cho chúng ta chính Thiên Chúa. Nghĩ về một đối thể có nghĩa là giữ nó ở một khoảng cách nào đó để làm chủ nó. Điều đó là bất khả đối với Thiên Chúa - chúng ta không thể “nghĩ về” Thiên Chúa theo nghĩa biến Người thành một đối thể. Chính đức tin, đức mến và sự thờ phượng đặt chúng ta vào cuộc gặp gỡ Thiên Chúa. Ở thế giới Tây phương, đời sống thiêng liêng đôi lúc bị tri thức hóa quá mức.

 

Những gì vừa nói đến rõ ràng dẫn đến kết luận này: cảm xúc và trí năng của chúng ta thật hữu ích và giá trị nhưng chúng không thể làm nền tảng cho tương quan của chúng ta với Thiên Chúa hay cho đời sống cầu nguyện của mình. Nền tảng duy nhất cho điều đó phải là đức tin. Khi cảm xúc trở nên khô khan và tâm trí hóa nên mù mịt thì đức tin phải mạnh mẽ đủ để dẫn chúng ta tiến tới. Đức tin thì tự do và không bị kìm kẹp. Đức tin có thể được nuôi dưỡng từ những gì khơi lên cảm xúc và soi rọi tâm trí, nhưng nó cũng có thể sống mà không cần những điều này.

 

Sau cùng, những cân nhắc này có một hiệu quả thực dụng và đó là một hiệu quả đầy an ủi vì trong đời sống cầu nguyện, có những thời khắc chúng ta gần như hoàn toàn túng quẫn... mặc cho thiện chí cùng những nỗ lực của mình, chúng ta vẫn khô khan, nguội lạnh, thờ ơ, thiếu hiểu biết và tăm tối... Vào những lúc như thế, chúng ta có khuynh hướng nản lòng và nghĩ rằng, chắc mình đang ở cách xa Thiên Chúa lắm. Chúng ta đố kỵ với những ai bày tỏ những cảm xúc tinh tế và những ý tưởng sâu sắc; chúng ta cảm thấy hoàn toàn bất lực so với những gì mà đời sống các thánh nói cho chúng ta về lòng sốt sắng và những ơn sủng thần nghiệm của họ. Chúng ta thấy mình ở xa Thiên Chúa vì không có lấy một chút sốt sắng nào cũng như mù mịt về Người.

 

Bạn đọc yêu quý, nếu điều đó xảy đến, bạn hãy nhớ lại những gì tôi đã nói: Không thành vấn đề việc bạn hiểu hay không hiểu, cảm nhận hay không cảm nhận... vì nếu cảm xúc và trí năng không trao Thiên Chúa cho bạn thì đức tin sẽ làm điều đó. Những lúc ấy, chỉ cần bạn thể hiện một hành vi đức tin khiêm tốn và chân thành để tiếp xúc với Thiên Chúa với một lòng tin tuyệt đối. Đức tin và duy chỉ đức tin, mới thiết lập cuộc gặp gỡ đích thực với sự hiện diện sống động của Thiên Chúa. Dẫu thiếu thốn mọi sự, đức tin vẫn đủ cho bạn. Nếu can đảm đi trong định hướng này, chúng ta sẽ thấy trải nghiệm này chân thực biết bao và những gì hành vi đức tin thực sự mang lại sẽ lớn lao nhường nào. Đức Giêsu thường nói trong Tin Mừng, “Con tin làm sao thì sẽ được như vậy”.

 

Trong những trải nghiệm cần phải có khi vượt qua những thử thách này, vai trò của cảm xúc và trí năng không bị phủ nhận cũng như kìm hãm nhưng chúng phải ở đúng vị trí của mình. Trong hành trình thiêng liêng, những lúc đau đớn vì “khủng hoảng” do khả năng có hạn của con người, thì đó không phải là lúc để hủy hoại những khả năng đó, nhưng để thanh luyện và tinh luyện chúng, để rồi, khi được sử dụng, chúng không còn là một cản trở cho sự hiệp thông với Thiên Chúa nữa. Chúng cần trải qua đêm tối để lớn lên và quen với một sự nhận thức mới mẻ và thâm sâu hơn về Thiên Chúa và sự khôn ngoan của Người. Nó phải được làm nghèo đi trước khi nên giàu có.

 

7. Chạm đến Thiên Chúa

 

Một loại suy thú vị có thể được rút ra giữa vai trò của đức tin trong đời sống thiêng liêng và của xúc giác trong đời sống giác quan. Xúc giác là giác quan phát triển đầu tiên trong năm giác quan (khi còn trong lòng mẹ), và nó là nguồn gốc của mọi giác quan khác. Nó không có sự phong phú của thị giác (với nhiều hình ảnh và màu sắc khác nhau) hay thính giác (với nhiều âm thanh, giọng nói và giai điệu khác nhau). Nhưng xúc giác là giác quan căn cốt nhất và cần thiết nhất cho đời sống và sự giao tiếp. Và trên hết, nó có một lợi điểm mà các giác quan khác không có: sự tương tác, nghĩa là chúng ta không thể tiếp xúc một vật thể mà không được nó chạm đến. (Chúng ta có thể thấy mà không bị vật gì đó thấy ta hay nghe mà không bị nghe). Cuộc tiếp xúc tạo ra bởi xúc giác thì trực tiếp và thân thiết hơn bởi các giác quan khác. Xúc giác là cơ quan thông hiệp tuyệt hảo.

 

Tương tự như thế, đức tin được mô tả như một loại nghèo khó (tin không nhất thiết là phải thấy, hiểu hay cảm nhận) nhưng đức tin là điều sống động nhất trong đời sống thiêng liêng. Một cách huyền nhiệm nhưng thiết thực, nhờ đức tin, chúng ta có thể “chạm đến Thiên Chúa” và để cho mình được Người chạm đến; đức tin thiết lập một mối hiệp thông nội tại với Người và cho phép chúng ta được biến đổi dần dần bởi ân sủng Người.

 

Đức tin được thực hành trong cầu nguyện mang lại cho chúng ta sự hiểu biết Thiên Chúa vốn còn mù mờ, bí nhiệm và vượt quá mọi hiểu biết khác. Đức tin không thỏa mãn mọi hiếu kỳ của con người chúng ta. Dĩ nhiên nó mặc ý nghĩa cho mọi điều trong cuộc sống, nhưng không nhất thiết giải đáp mọi vấn đề. Tuy nhiên, nghịch lý thay, sự hiểu biết Thiên Chúa mà đức tin mang đến lại có khả năng đốt lên trong chúng ta ngọn lửa yêu mến hơn bất cứ một kiến thức cụ thể, rõ ràng nào của trí năng. Thánh Gioan Thánh Giá diễn tả cách ý vị thế này, “Đức tin trong đó chúng ta yêu mến Thiên Chúa mà không hiểu biết Người”.[9]

 

8. Đức tin mở mọi cánh cửa

 

Đức tin mang trong mình một điều gì đó tuyệt diệu mà chúng ta không cảm nhận đầy đủ tầm quan trọng và sức mạnh của nó, một điều gì đó khiêm tốn và thường giấu ẩn: Một thiên hướng bí mật của con tim và ý chí, một sự bám dính hoàn toàn vào lời của Thiên Chúa và những lời hứa của Người với thái độ tùng phục và tín thác. Cùng lúc, chính hành vi khiêm tốn này, và duy chỉ mình nó mới dần dần dẫn chúng ta vào mọi kho tàng của mầu nhiệm Thiên Chúa. Để rồi, chúng ta có thể hiểu tại sao trong Tin Mừng, nhiều lần Đức Giêsu nhấn mạnh đến tầm quan trọng và sức mạnh của đức tin. Mọi thiếu hụt của chúng ta một phần nào đó là do thiếu đức tin và như thế, không có gì cấp bách và hiệu quả hơn việc gia tăng đức tin của chúng ta.

 

Để kết thúc phần nói đến chủ đề này, chúng ta đọc một trích đoạn đáng yêu của Thánh Louis-Marie Grunion de Monfort. Trong tiểu luận về Lòng Sùng Kính đích thực đối với Đức Trinh Nữ Maria, thánh nhân nói đến sự phó dâng cho Đức Maria như là phương thế hữu hiệu dẫn đến sự thánh thiện, dựa trên tư tưởng cho rằng nếu chúng ta dâng mình hoàn toàn cho Đức Maria, thì Mẹ sẽ trao ban chính mình hoàn toàn cho chúng ta[10] và sẽ làm cho chúng ta thông phần các ân sủng Mẹ đã nhận từ Đấng Toàn Năng, đặc biệt là đức tin của Mẹ. Như chúng ta đã biết, Công Đồng Vaticanô II đặc biệt nhấn mạnh đức tin của Đức Maria. Mô tả đức tin mà chúng ta sẽ được thông phần, nhờ vào sự trìu mến đầy tình mẫu tử của Mẹ đối với chúng ta, như một chìa khóa vạn năng mở ra mọi cánh cửa, Thánh Louis-Marie nói rằng:

 

Đức Maria sẽ chia sẻ đức tin của ngài cho bạn. Đức tin của Mẹ trên trần gian mạnh hơn đức tin của tất cả các tổ phụ, các tiên tri, các tông đồ và các thánh... Đức tin sẽ giúp bạn ít phụ thuộc vào những cảm xúc phi thường cũng như những nhận biết từ giác quan. Vì đó là một đức tin sống động được đức ái truyền sức sống, giúp bạn có khả năng làm mọi việc không bởi một động lực nào khác ngoài động lực của đức ái tinh tuyền. Đó là một đức tin kiên định, không lay chuyển tựa bàn thạch, giúp bạn đứng vững và bền gan giữa những giông tố của cuộc đời. Đó là một đức tin năng động và tìm kiếm như một chìa khóa vạn năng dẫn bạn vào các mầu nhiệm của Đức Giêsu Kitô và của định mệnh cuối cùng của con người, đồng thời dẫn bạn đi vào chính cõi lòng của Thiên Chúa. Đó là một đức tin can đảm thôi thúc bạn đảm nhận và thực hiện không chút do dự những điều lớn lao cho Thiên Chúa và cứu rỗi các linh hồn. Đức tin này sẽ là ngọn lửa cháy bừng của bạn, là chính đời sống của bạn với Thiên Chúa, là quỹ bí mật sự Khôn Ngoan của Thiên Chúa và là vũ khí toàn năng để bạn soi dẫn những ai ngồi trong bóng tối và đêm đen của sự chết. Đức tin hâm nóng những kẻ nguội lạnh và những ai hết sức cần đến sự nồng nàn của tình yêu. Nó phục hồi sức sống cho những kẻ chết vì tội lỗi. Đức tin lay động và làm biến đổi tâm hồn cứng như đá và gỗ Lebanon bằng lý lẽ mềm dẻo và thuyết phục. Cuối cùng, đức tin này sẽ làm cho bạn mạnh mẽ để chống lại ma quỷ và những kẻ thù khác của ơn cứu độ.[11]

 

9. Cầu nguyện và đức cậy

 

Sau khi bàn về đức tin như nền tảng của cầu nguyện, giờ đây, chúng ta nói đến vai trò thiết yếu tương tự của đức cậy.

 

Cầu nguyện là một hành vi cậy trông: nó có nghĩa là nhận ra rằng, chúng ta cần Thiên Chúa, chúng ta không thể tự xoay xở khi đối mặt với mọi thử thách của cuộc sống, chúng ta cậy dựa vào Thiên Chúa hơn mọi nguồn lực và tài năng riêng mình, tín thác vào Người, Đấng cung cấp cho chúng ta những gì chúng ta cần. Trong cầu nguyện, đức cậy được diễn đạt, và do đó, được đào sâu và củng cố. Một cách thiết thực, dòng suy tư này dẫn chúng ta đến sự khiêm tốn và nghèo khó thiêng liêng vốn không thể tách rời khỏi đức cậy.

 

Về căn bản, hành vi cậy trông bao gồm thái độ sau đây: “Tôi nhận ra mình nhỏ bé và nghèo nàn trước mặt Thiên Chúa, nhưng tôi tin tưởng trông đợi mọi sự từ Người. Vì thế, sự nghèo khó của tôi không còn là vấn đề nhưng là một vận may”.

 

Đời sống cầu nguyện một cách cần thiết dẫn chúng ta đến chỗ trải nghiệm sự nghèo khó của mình. Đôi lúc điều này rất đau đớn, nhưng chúng ta không nên sợ bởi rốt cuộc, trải nghiệm này sinh ích vô cùng.

 

Hãy bắt đầu từ cuộc sống riêng của mình. Nửa giờ hay một giờ dành cho việc cầu nguyện lặng lẽ riêng tư trong một góc phòng hay trong nhà thờ, đôi lúc là thời gian tuyệt vời và ngọt ngào vô cùng. Chúng ta cảm nếm hạnh phúc, niềm vui và bình an quý giá hơn bất kỳ điều gì mà thế gian có thể ban tặng.

 

Thế nhưng, mọi sự không luôn luôn như thế. Thời gian cầu nguyện này có thể khó khăn. Đôi khi lủi thủi một mình trong lặng lẽ sau khi bước ra khỏi những bận rộn quen thuộc của mình, chúng ta thấy mình đối diện với mọi thứ trục trặc trong đời sống. Những khiếm khuyết, vấp ngã, sai lầm, khó khăn...chúng ta gặp phải khi hồi tưởng, hối tiếc quá khứ hoặc những lo toan về tương lai .v.v... - danh sách có thể rất dài - tất cả được phơi bày ra đó. Thay vì cảm nhận thời gian cầu nguyện như một điều gì đó tích cực, chúng ta lại coi đó như là thời khắc đau đớn khi phải đối diện với những gì xem ra tiêu cực trong đời mình. Điều đó có thể dẫn đến nản chí, dẫn đến cám dỗ bỏ cầu nguyện và hướng về những bận bịu vui thú hoặc những trò tiêu khiển đáng thưởng thức hơn. Quả vậy, nhiều người bỏ cầu nguyện, lẩn tránh cô tịch và thinh lặng bởi sợ phải đứng trước một cuộc đối diện với chính mình mà cầu nguyện buộc họ phải trải qua.

 

Đừng hoảng sợ trước trải nghiệm này, một trải nghiệm thông thường và thậm chí tuyệt đối cần thiết cho bạn. Ngày kia, Đức Giêsu bảo Thánh Louis, Vua nước Pháp rằng, “Con muốn cầu nguyện như một vị thánh, nhưng ta lại mời con cầu nguyện như một gã nghèo!”.

 

Cầu nguyện dẫn chúng ta đến chỗ đối mặt với những gì chúng ta thật sự là. Mỗi một người đều có những khoảng tối riêng, một phần làm nên chính họ vốn đôi lúc nặng nề và là căn nguyên của sự xấu hổ, tội lỗi và đau khổ: đó là những giới hạn của con người, những căn bệnh tâm lý, những vết thương lòng, những lãnh vực đồng loã với sự dữ, sự bất lực, sa ngã đủ loại .v.v...Cầu nguyện dẫn chúng ta ngày càng sâu hơn vào ánh sáng của Thiên Chúa và như tia nắng mặt trời dọi vào một phòng tối và phơi bày những vết bụi nhỏ nhất bay lơ lửng trong không khí, vết bẩn của những bất toàn và tội lỗi của chúng ta.

 

Dĩ nhiên không chỉ cầu nguyện mới làm cho chúng ta trải nghiệm sự nghèo túng của mình; toàn bộ đời sống và những hoàn cảnh khó khăn của nó cũng kéo theo việc cảm nghiệm những giới hạn, yếu đuối, thương tích và tội lỗi. Thế nhưng, cầu nguyện giúp chúng ta ý thức cao độ hơn về tất cả những điều đó và buộc mỗi người đối mặt với nó mà không có bất cứ một lối thoát khả thể nào.

 

Vậy chúng ta phải làm gì? Trên hết, đừng sợ, “Người khoẻ mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần. Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi” (Mc 2, 17).

 

Ơn cứu độ cốt tại ở một thái độ kép: khiêm tốn và cậy trông. Chúng ta hãy bằng lòng hoàn toàn với những gì mình là, chấp nhận sự phơi bày trần trụi những giới hạn và lầm lỗi của mình, đồng thời, tận dụng toàn bộ những điều đó bằng việc học cách không đặt mọi tín thác và hy vọng của chúng ta nơi các phẩm chất và việc làm của mình, ngoại trừ nơi chỉ một mình Thiên Chúa.

 

“Ai nâng mình lên sẽ bị hạ xuống, ai hạ mình xuống sẽ được nâng lên” (Lc 14, 11). Với những lời này, Tin Mừng mời gọi chúng ta nhận biết và chấp nhận hoàn toàn lỗi lầm của mình, dù nó thâm căn cố đế và phiền toái đến đâu, cùng lúc, lao vào cánh tay của Thiên Chúa với niềm tín thác dẫu cho mù quáng vào lòng xót thương và quyền năng của Người. Chúng ta cần chấp nhận chính mình như kẻ nghèo thâm căn cố đế và biến sự nghèo khó đó thành tiếng van nài mong mỏi với niềm cậy trông bất khuất. Rồi Thiên Chúa sẽ đến giúp chúng ta.

 

Kẻ nghèo này kêu lên và Chúa đã nhậm lời, giải thoát khỏi mọi cơn nguy khốn(Tv 34, 6).

“Bởi vì Chúa đã chẳng coi thường,

chẳng khinh miệt kẻ nghèo hèn khốn khổ,

cũng không đành ngoảnh mặt làm ngơ,

nhưng đã thương nghe lời cầu cứu” (Tv 22, 24).

 

Lời cầu khẩn duy nhất mà Thiên Chúa nghe là lời cầu khẩn của kẻ cùng khốn. Đó không phải là lời cầu của người Pharisiêu vốn bằng lòng với chính mình và những việc lành mình làm khi ông cảm tạ Chúa vì mình tốt hơn người khác, nhưng là lời cầu của người thu thuế đứng xa xa, đấm ngực, thưa rằng, “Lạy Chúa, xin xót thương con là kẻ tội lỗi!” (Lc 18, 13). Lời cầu xuyên thủng tầng trời, chạm đến cõi lòng Thiên Chúa, lôi xuống ơn Người... là lời cầu vọng lên từ tận thâm sâu của yếu nhược và tội lỗi, “Từ vực thẳm con kêu lên Ngài, lạy Chúa! Muôn lạy Chúa, xin Ngài nghe tiếng con!” (Tv 130, 1-2).

 

10. Sức mạnh của lòng khiêm tốn

 

Trải nghiệm đau thương về sự nghèo khó tận căn của mình phải lôi kéo chúng ta đến với lòng khiêm tốn và niềm cậy trông vốn không thể tách biệt nhau xét về nền tảng. Khiêm tốn có nghĩa là nhận biết mọi sự chúng ta là, mọi sự chúng ta có hoàn toàn là ân huệ nhưng không của tình yêu Thiên Chúa và rằng, chúng ta không thể quy bất cứ điều gì cho chính mình. Thánh Phaolô hỏi, “Điều gì anh em có mà không do đã đón nhận?” (1Cr 4, 7). Khiêm tốn cũng có nghĩa là an tâm bằng lòng với những giới hạn và yếu đuối của mình - như Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu thổ lộ, “yêu mến sự nhỏ bé và nghèo hèn của mình”.[12]

 

Hiểu được sức mạnh chưa-hề-nghe-đến của lòng khiêm tốn và lòng cậy trông là một điều quan trọng đối với chúng ta. Thánh Phaolô nói rằng: “Đức cậy không làm chúng ta thất vọng” (Rm 5, 5). Thánh Gioan Thánh Giá cho rằng: “Người ta nhận từ Thiên Chúa nhiều như họ hy vọng”.[13] Đây là ý tưởng khích lệ nhất: Nhờ đức cậy, chúng ta có thể, hầu như chắc chắn, đạt được mọi sự từ Thiên Chúa. Đức cậy bao gồm sự nghèo khó tận căn và lòng mong chờ mọi sự đến từ Thiên Chúa với một niềm tin tưởng tuyệt đối. Thiên Chúa sẽ ban cho chúng ta những quà tặng ân huệ của Người không theo các nhân đức, giá trị, công trạng hay những việc lành phúc đức của chúng ta, nhưng Người ban cho mỗi người tùy theo niềm cậy trông của họ. Chúng ta cũng áp dụng điều này cho lòng khiêm tốn, “Thiên Chúa chống lại đứa kiêu căng, nhưng ban ơn cho kẻ khiêm nhường” (1Pr 5, 5). “Người tô điểm người khiêm tốn bằng sự chiến thắng” (Tv 149, 4). Lòng khiêm tốn có sức mạnh tuyệt đối trên cõi lòng của Thiên Chúa và lôi cuốn ân sủng sung mãn của Người. Khi đức cậy kết hiệp với lòng khiêm tốn, thì nó “buộc” Thiên Chúa, có thể nói thế, cúi xuống và chăm sóc chúng ta.

 

Nếu thực sự có thể đo được sức mạnh của lòng khiêm tốn thì chúng ta có thể coi kho tàng lớn nhất của mình là tất cả mọi sự vốn đòi buộc chúng ta phải trở nên khiêm tốn - bao lỗi lầm, bất lực và sự vấp ngã của chúng ta. Thánh Angela Foligno cho rằng, “Linh hồn càng bị thương tổn, bị tước bỏ và phải chịu sỉ nhục thẳm sâu, nó càng đạt được khả năng vươn lên những tầm cao của sự tinh tuyền. Tầm cao nó có thể vươn đến được đo bằng chiều sâu vực thẳm nơi nó bám rễ và tọa lạc”.[14] Nếu muốn vươn lên thật cao, trước tiên chúng ta phải hạ xuống thật thấp! Thánh Têrêxa Avila nói thế này, “Tôi coi cái ngày khi mà con người mình bị phơi bày trần trụi một cách khiêm hạ với bao đau đớn và tiếc xót là một ân huệ lớn lao hơn nhiều đến từ Thiên Chúa so với những ngày dành trọn cho việc cầu nguyện”.[15] Nơi khác, thánh nữ nói, “Toàn bộ tòa nhà cầu nguyện được xây dựng trên lòng khiêm tốn và linh hồn càng hạ mình trong cầu nguyện, Thiên Chúa càng nhấc nó lên cao”.[16]

 

Gần đây, tôi đọc một số đoạn của một nữ tu người Pháp thuộc thế kỷ mười bảy, Catherine de Bar, người sáng lập mười tu viện Biển Đức cho việc Tôn Sùng Thánh Thể Thường Xuyên. Thánh nữ mô tả rất hay về sức mạnh lôi kéo ơn Chúa của lòng khiêm tốn:

 

Chúng ta không biết hay không muốn biết bí quyết chiếm được tâm hồn của Thiên Chúa. Hãy hạ mình và khinh miệt chính mình từ trong lòng, [17] không phải bằng lời nói, nhưng bằng sự thật. Nếu bạn làm những gì tôi đề nghị, toàn thể thiên đàng sẽ tuôn đổ vào tâm hồn bạn, bạn sẽ ngập tràn biết bao ơn sủng mà bạn sẽ có đủ để cải hóa toàn thế giới. Không ai có thể biết hay cảm nếm Thiên Chúa, ngoại trừ lòng khiêm tốn.[18]

 

Mỗi người luôn muốn trở nên một điều gì đó và nếu điều đó không ở giữa thọ tạo thì nó ở trong Thiên Chúa và không gì trên thế gian hiếm hoi cho bằng tìm được một người mà người đó bằng lòng trở nên không là gì cả để Thiên Chúa có thể là mọi sự trong họ. Mọi sự ở trong Thiên Chúa và Thiên Chúa đối với chính Người. Đó là thao thức của tôi, nguồn vui duy nhất của tôi mà không gì có thể cắt đứt kể cả những bất toàn và tội lỗi của tôi. Đừng mong đợi gì từ chính bạn, nhưng mọi sự từ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta.[19]

 

Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu cũng giải thích lòng khiêm tốn lôi kéo ơn Chúa nhiều đến ngần nào:

 

Vậy chúng ta hãy tránh xa những gì hào nhoáng, yêu thích sự nhỏ bé của mình, yêu thích việc cảm nhận mình là hư không với một tinh thần nghèo khó và Đức Giêsu sẽ đến tìm kiếm chúng ta, dù chúng ta có thể ở cách xa Ngài chừng nào đi nữa, Ngài cũng sẽ biến chúng ta thành những ngọn lửa tình yêu.[20]

 

Riêng việc thiếu lòng khiêm tốn cũng ngăn cản Thiên Chúa đổ đầy chúng ta những ân ban như Người muốn và có thể làm; bởi việc thiếu khiêm tốn khiến chúng ta quy về mình những gì đúng ra là quà tặng nhưng không của lòng từ nhân Người.

 

Thiên Chúa không đòi hỏi chúng ta điều gì tốt hơn việc bao phủ chúng ta bằng chính Người và ân sủng của Người, nhưng Người thấy rằng, chúng ta quá tự cao tự đại đến nỗi điều đó ngăn cản Người trao ban chính mình cho chúng ta. Vì nếu tâm hồn chúng ta không được xây dựng trên lòng khiêm tốn và nhận mình thấp hèn, chúng ta sẽ không có khả năng đón nhận các ân ban của Người, bởi sự tự yêu mình của chúng ta sẽ ngốn hết chúng. Vì thế, Thiên Chúa buộc phải để chúng ta ở trong sự nghèo túng, bóng tối và khô cằn của chúng ta để làm cho chúng ta nhận ra sự hư không của mình. Điều đó cho thấy đức khiêm tốn cần thiết biết bao.[21]

 

Khiêm tốn không được sản xuất để người ta đặt hàng, nó chỉ có thể đến như hoa trái khi chúng ta đối mặt đau thương, nghèo túng và yếu nhược nội tâm của mình, khi phải tước bỏ tất cả kiêu căng và sự khẳng định bản ngã của mình.

 

Khiêm tốn không cốt tại những ý nghĩ khiêm hạ, nhưng cốt ở việc chịu đựng sức nặng của một sự thật vốn là vực thẳm của sự yếu nhược tận cùng của chúng ta khi Thiên Chúa hài lòng làm cho chúng ta cảm nhận được điều đó.[22]

 

Những lời này nghe có vẻ khắc nghiệt, nhưng chúng ẩn chứa một mầu nhiệm ngọt ngào và diệu vợi. Một trong những trải nghiệm lạ lùng và đẹp đẽ nhất của đời sống thiêng liêng là thế này: vào những lúc chúng ta cảm thấy bị nghiền nát bởi sự yếu đuối nhưng đồng thời nhận ra rằng chúng ta yếu đuối thật sự và hoàn toàn chấp nhận điều đó, khi chúng ta chấp nhận “sống trong sự hư không của mình”, có thể nói thế, và không tìm cách chạy trốn (bởi đó là sự thật); chính lúc đó, Thiên Chúa thăm viếng bằng sự an ủi trìu mến của Người và chúng ta cảm nhận rõ ràng rằng, mọi sự giàu có của tình yêu và lòng thương xót của Người giờ đây được dành cho chúng ta. Sự nghèo túng làm cho chúng ta giàu có vô cùng. “Phúc cho ai có tâm hồn nghèo khó vì Nước Trời là của họ” (Mt 5, 3). Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu nói rằng, “Không có niềm vui nào có thể sánh với niềm vui mà những người có tinh thần nghèo khó cảm nếm”.[23]

 

Để tóm kết chủ đề này, dưới đây là những lời hay ý đẹp của một tu sĩ Dòng Khổ Tu Pháp (trong một bài báo về lời cầu nguyện của con tim) nói đến ý nghĩa sâu xa và tích cực của trải nghiệm về sự nghèo túng và yếu đuối vốn là một phần không thể thiếu của đời sống thiêng liêng. Đó là nền tảng của một tình yêu đích thực.

 

Ngay cả với trật tự tự nhiên, mọi tình yêu đích thực là một chiến thắng sự yếu đuối. Yêu không phải là thống trị, sở hữu, hay áp đặt chính mình lên người được yêu. Yêu có nghĩa là đón nhận người khác mà không dựng lên bất cứ hàng rào phòng thủ nào. Đối lại, mỗi người biết chắc mình được đón nhận hoàn toàn bởi người đó mà không bị xét đoán, lên án hoặc so sánh. Giữa hai người yêu nhau, sẽ không còn có sự thử thách về sức mạnh. Có một loại thông minh tương tác bên trong mà nhờ đó mỗi người không còn có thể sợ bất cứ nguy hiểm nào đến từ người kia nữa. Trải nghiệm này, cả khi nó vẫn luôn bất toàn, cũng đã đủ thuyết phục. Dẫu vậy, nó chỉ là một sự phản ánh thực tại của Thiên Chúa. Từ khoảnh khắc đó, chúng ta bắt đầu tin cách chân thật trong lòng mình vào sự trìu mến vô biên của Thiên Chúa là Cha, cách nào đó, chúng ta cảm thấy bị bắt buộc để đi xuống ngày càng sâu sắc hơn trong vui tươi tích cực chấp nhận sự hư không, vô tri và bất khả của mình. Điều này không kéo theo bất cứ một sự tự sỉ nhục bệnh hoạn nào. Một cách đơn sơ, chúng ta đi vào thế giới của tình yêu và sự tín thác.[24]

 

11. Đi xuống tận chính mình

 

Hãy dùng một hình ảnh để đặt tất cả những gì tôi vừa nói theo một cách hơi khác và diễn tả những gì chúng ta cảm nghiệm nếu chúng ta kiên trì cầu nguyện, cùng lúc với cả nỗi đau cũng như hạnh phúc.

 

Một người kiên trì cầu nguyện ngày này qua ngày khác được ví như người có ngôi nhà cũ ở vùng quê với một cái giếng trong vườn. Cái giếng đã không được dùng có lẽ đến cả trăm năm và đang bị tắc nghẽn. Người đó nghĩ quả là rất tốt nếu phục hồi giếng để dùng, vì thế ông bắt đầu làm sạch nó. Để bắt đầu, điều đó chẳng thú vị gì: ông thấy lá thối rửa, đá sỏi, bùn và mọi thứ rác rưởi mà một số trong đó thật đáng tởm lợm. Nếu ông không bỏ cuộc, nhưng tiếp tục ra công dọn dẹp, thì cuối cùng ông phát hiện ở đáy giếng một mạch nước trong, tươi mát và không thể tin được sẽ thỏa mãn cơn khát.

 

Với chúng ta, cũng vậy, trung thành cầu nguyện kéo theo sự đối đầu đau thương với những gì chúng ta có trong lòng mình. Ở đó, chúng ta tìm thấy những gánh nặng, những gì lộn xộn, nhơ nhớp. Nhưng một ngày nào đó, khi đào sâu hơn những vết thương tâm lý của mình, thậm chí sâu hơn tội lỗi và bụi bẩn, chúng ta đạt đến một dòng nước trong lành, sự hiện diện của Thiên Chúa trong chiều sâu tâm hồn có khả năng làm cho toàn bộ bản ngã của chúng ta được tinh luyện và đổi mới. “Ai tin vào tôi thì từ tâm hồn mình sẽ tuôn ra những dòng nước hằng sống” (Ga 7, 38). Con người không được thanh luyện từ bên ngoài vào, nhưng bắt đầu từ bên trong. Không phải bằng nỗ lực đạo đức của mình, nhưng bằng việc khám phá một sự Hiện Diện bên trong chúng ta và để cho Người tự do hoạt động.

 

Bằng cách trung thành cầu nguyện, chúng ta tìm thấy bên trong mình một không gian của sự thanh khiết, bình an, tự do, sự hiện diện của Thiên Chúa, gần chúng ta hơn chúng ta gần với chính mình. Thánh Gioan Thánh Giá nói, trung tâm của linh hồn là Thiên Chúa. Chúng ta dần dần học cách quy hướng đời mình về Người, và không còn hướng đến ngoại vi tâm lý bị tổn thương nữa - nỗi sợ, sự cay đắng, sự thù hằn, ganh tỵ .v.v..

 

Loại nội tâm hóa này, một trong những hoa trái của cầu nguyện, thì hơn cả việc hồi tâm sâu xa. Đó là việc khám phá và liên kết chính mình với Đấng Hiện Diện bên trong vốn trở nên sự sống và nguồn mạch mọi suy tư và hành động của chúng ta. Tôi sẽ trở lại điểm này.

 

12. Cầu nguyện như một hành vi của đức mến

 

Sau khi nói về cầu nguyện như một hành vi đức tin và đức cậy, giờ tôi muốn bàn đến “nhân đức đối thần” thứ ba và cũng là nền tảng của đời sống cầu nguyện của chúng ta: đức mến.

 

Cầu nguyện là nơi ưu tiên để đức mến thực thi và như thế, nó được thanh luyện và đào sâu. Cầu nguyện là một trường dạy đức mến tuyệt diệu và đầy hiệu quả. Nó là trường dạy kiên nhẫn, trung thành, khiêm tốn, tin tưởng và những thái độ này là những biểu hiện chân thật nhất của một tình yêu đích thực. Cầu nguyện là trường dạy yêu mến Thiên Chúa, yêu mến tha nhân và đồng thời, (không phải ít quan trọng nhất) yêu mến chính mình.

 

Khi tìm cách định vị chỗ đứng của đức mến trong đời sống cầu nguyện, chúng ta có thể nói rằng, nó là mục tiêu của cầu nguyện và cùng với đức tin và đức cậy, nó là phương tiện chính của việc cầu nguyện. Điều đó nghe có vẻ nghịch lý, nhưng nó áp dụng cho nhiều điều trong sự vận hành của đời sống thiêng liêng. Pseudo-Dionysius, một giáo phụ Hy Lạp thế kỷ XVI, nói, linh hồn vận hành theo đường tròn.

 

Thánh Têrêxa Avila nhấn mạnh điều này trong các giáo huấn của ngài về cầu nguyện. Cầu nguyện không phải là vấn đề suy tư nhiều mà là yêu mến nhiều. Chỉ vì, thánh nhân nói thêm, không phải mọi linh hồn đều được phú cho trí tưởng tượng, nhưng là khả năng yêu thương.

 

Vậy, cầu nguyện là hành vi yêu mến Thiên Chúa. Cầu nguyện có nghĩa là chấp nhận tình yêu Thiên Chúa một cách tín thác. Cầu nguyện tiên vàn không phải là làm gì đó cho Thiên Chúa, nhưng căn bản là chấp nhận tình yêu của Người, để cho mình được Người yêu thương. Chúng ta thấy thật khó để đem điều này ra thực hành, bởi chúng ta không mạnh tin vào tình yêu Thiên Chúa; chúng ta thường cảm thấy bất xứng với tình yêu đó và quy hướng về mình hơn về Người. Trong sự kiêu căng tinh tế của mình, chúng ta muốn thực hiện những điều tốt đẹp cho Thiên Chúa thay vì cố gắng tìm ra những gì Thiên Chúa làm cho chúng ta cách nhưng không.

 

Đặt mình trước sự hiện diện của Thiên Chúa, là điều cần thiết cho chúng ta dẫu chúng ta nghèo hèn và bé nhỏ để cởi mở và sẵn sàng đón nhận tình yêu của Người. Chúng ta cần cho phép Thiên Chúa yêu thương chúng ta (nếu tôi có thể nói như vậy) thay vì muốn làm bất cứ điều gì, dù điều đó là chi, theo sáng kiến của chúng ta. Hoạt động thực sự quan trọng trong việc cầu nguyện của chúng ta khi cầu nguyện không phải là của chúng ta nhưng là của Thiên Chúa. Chúng ta được đòi hỏi phải chấp nhận, và đó là tất cả! Thánh Têrêxa Avila định nghĩa cầu nguyện như “một cuộc trao đổi thân tình trong đó, chúng ta trò chuyện thường xuyên và mật thiết với Đấng mà chúng ta biết, Người yêu thương chúng ta”.[25] Định nghĩa này làm sáng tỏ tình yêu Thiên Chúa dành cho chúng ta đi trước, chứ không phải tình yêu chúng ta dành cho Người. Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu nói, “Công nghiệp không cốt ở làm nhiều hay cho nhiều, nhưng đúng hơn, ở nhận nhiều và yêu nhiều”.[26]

 

Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu có khuyết điểm là thường ngủ gật khi cầu nguyện; nó không phải là ý xấu nhưng là một yếu đuối do tuổi trẻ và mất ngủ. Trong một đoạn trích từ nhật ký, thánh nữ nói:

 

Còn lâu tôi mới thực sự trở thành một vị thánh, chỉ điều này cũng đủ để chứng minh điều đó: thay vì vui mừng trước sự khô khan của mình, tôi phải quy nó cho sự ít ỏi của lòng sốt sắng và sự trung thành của mình và tôi phải khốn khổ về việc ngủ gật như tôi đã làm bảy năm qua khi tôi cầu nguyện và tạ ơn. Ồ, tôi không khốn khổ về điều đó... Tôi nghĩ những đứa bé làm vui lòng cha mẹ chúng khi chúng ngủ cũng như khi chúng thức.[27]

 

Ngộ nghĩnh thay, trong đoạn này, thánh nhân cho thấy rõ ràng rằng, yêu mến Thiên Chúa không hệ tại trước hết ở việc làm gì cho Người (Người có thể cần điều gì?) nhưng tiên vàn là để cho mình được Người yêu thương, tin vào tình thương của Người dành cho chúng ta. Đó là điều làm Người hài lòng nhất. Không gì làm Người hài lòng cho bằng sự tín thác của những đứa con nhỏ bé của Người.

 

Dĩ nhiên cầu nguyện cũng là sự đáp trả về phía chúng ta trước tình thương Thiên Chúa dành cho chúng ta. Cầu nguyện là trao cho Người thời giờ của chúng ta và thời giờ cũng là cuộc sống! Ngoài ra, trong cầu nguyện, chúng ta dâng mình cho Chúa, trao cho Người con tim và mạng sống mình. Để thuộc hoàn toàn về Người, chúng ta sẵn sàng thực hiện những gì Người muốn, nói rằng chúng ta yêu mến Người, đưa ra những quyết tâm về tất cả những điều này .v.v..

 

Cầu nguyện cũng là một hành vi yêu thương dành cho tha nhân. Khi chúng ta khẩn cầu cho họ, thì hành vi yêu thương được thể hiện cách rõ ràng và ý thức. Nhưng ngay cả trong việc tôn sùng đơn thuần, nơi mà những nhu cầu của tha nhân không chiếm tâm trí chúng ta, chúng ta vẫn thực hành đức ái đích thực đối với họ. Cầu nguyện làm cho chúng ta dịu dàng, bình an, khiêm tốn, nhân từ hơn... và những người Thiên Chúa đặt trên hành trình của chúng ta chắc chắn cũng được hưởng lợi từ đó. Tôi xin nói thêm rằng chỉ hành vi hướng về Thiên Chúa, tiếp cận Người trong đức tin và đức mến, cũng có nghĩa rằng, tất cả những người chúng ta mang trong lòng và cả những người ở bên ngoài tâm hồn mình, cũng được gắn kết với chúng ta bởi hàng ngàn sợi dây vô hình nhưng đích thực của mầu nhiệm Các Thánh Thông Công, được “tự động” mang đến gần Thiên Chúa hơn và hưởng phúc từ điều đó. Chúng ta hãy lắng nghe Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu nói về chủ đề này:

 

Một sáng nọ khi tôi dâng lời tạ ơn, Đức Giêsu trao cho tôi một phương thế đơn giản để tôi thực hiện sứ mạng của mình. Ngài giúp tôi hiểu những lời này từ Diễm Ca: “Hãy kéo em theo anh, đôi ta cùng mau bước! Ngài sẽ là nguồn hoan lạc vui sướng của chúng em.” (Dc 1, 4). Ôi Giêsu, ngay cả không cần phải nói rằng: “Bằng cách lôi kéo con, xin lôi kéo các linh hồn con yêu thương!” Chỉ cần nói “Hãy lôi kéo con” là đủ rồi. Lạy Chúa, con hiểu rằng: Khi một linh hồn để mình được quyến rũ bởi mùi thơm say nồng của dầu Ngài, nó sẽ không bao giờ chạy theo Ngài một mình, mà mọi linh hồn nó yêu thương cũng được lôi kéo theo nó; điều đó được thực hiện mà không kiềm chế, không nỗ lực, nó là kết quả tự nhiên của việc linh hồn được cuốn hút đến với Ngài.[28]

 

Đôi lúc chúng ta có xu hướng nghĩ đến việc cầu nguyện như một nhiệm vụ. Chúng ta không nhận thức đủ rằng, mình may mắn làm sao khi có cơ hội cầu nguyện. Cầu nguyện giúp chúng ta hiệp nhất thực sự với mỗi người và mọi người trong những nhu cầu và đau khổ của họ. Đó là nguồn ủi an vô tận bởi nỗi đau tồi tệ nhất trong đời (chẳng hạn như cha mẹ có thể hiểu rõ điều này) là không thể giúp ai đó mà chúng ta yêu thương đang trong cơn túng quẫn. Là con người, đôi lúc chúng ta hoàn toàn bất lực và bị tước bỏ hết mọi nguồn lực để giúp đỡ những người chúng ta yêu thương. May thay chúng ta có thể cậy vào việc cầu nguyện! Quả là một ân ban từ Thiên Chúa!

 

Cuối cùng, cầu nguyện là một hành vi yêu thương đối với chúng ta. Cầu nguyện mang lại cho chúng ta những lợi ích khả thi lớn lao nhất. Cầu nguyện cho chúng ta một trong những quà tặng thiết yếu nhất, đó chính là Thiên Chúa, để rồi, mọi sự, chúng ta có thể tìm thấy trong Người: niềm tin, sự tín thác, bình an, ánh sáng, sức mạnh và sự trưởng thành tích cực. Như tôi đã nói trước đây, cầu nguyện cũng là trường dạy giao hoà với chính mình, chấp nhận những yếu đuối của mình. Cầu nguyện dần dần dẫn chúng ta đến chỗ khám phá căn tính đích thực của mình, ơn được làm con Chúa. Có một cách yêu bản thân sai lầm, bao gồm ích kỷ, tự kiêu và tự yêu; nhưng cũng có một phương thế hữu hiệu và cần thiết để yêu bản thân và tìm thiện ích cho mình. Cầu nguyện là một trong những phương thế căn bản để yêu bản thân một cách đúng đắn.

 

Chủ đề này thật nền tảng nhưng tôi sẽ không nói thêm ở đây về cầu nguyện như là việc thực thi đức ái và như thế, như là một nơi phát triển tình yêu dành cho Thiên Chúa, tha nhân và bản thân. Thay vào đó, tôi xin kết luận bằng cách trích một bức thư của Chị Marie Ba Ngôi gửi cho một trong những tập sinh của mình. Bức thư làm sáng tỏ vai trò ưu tiên mà đức ái phải có so với tư duy trong đời sống cầu nguyện. Cần phải lặp lại điều này vì trong thế giới Tây phương, chúng ta hướng đến một loại chủ nghĩa duy lý trí vốn nhầm lẫn đời sống thiêng liêng và hoạt động trí óc. (Ở đây tôi có phần nào nhảy sang chủ đề của chương tiếp theo về phương pháp cầu nguyện).

 

Vậy điều cốt yếu là đến với Chúa, trên hết bằng lời cầu nguyện, chúng ta thực hiện điều này; chúng ta đến gần Thiên Chúa và sống trong Người, Đấng cư ngụ trong chúng ta.

 

Sáng hôm nay, khi nghĩ về em, dường như Chị có cảm tưởng rằng, trên hết em nên thực hành việc cầu nguyện ngập tràn đức mến, hầu em nhớ đến Chúa bằng sự cảm mến của ý chí hơn là bằng việc nguyện gẫm lâu giờ. Thực vậy, tâm trí chúng ta quá động đạc đến nỗi lúc em nghĩ nó cố định ở một nơi nào đó thì nó biến đi đến nơi mà chỉ có trời mới biết! Với đức mến, đó là một vấn đề hoàn toàn khác - khi lòng mến được biểu lộ, khi nó ước ao, khi nó tìm kiếm... nó chỉ dán mắt vào những gì nó quý chuộng; và càng nhìn vào những gì nó quý chuộng, nó càng tỏa sáng và ở lì đó - quay lưng trước mọi điều khác. Để hiểu một chủ đề nào đó, trí óc phải tập trung mọi ý tưởng, những dòng lý lẽ .v.v.., nhưng lòng mến hoạt động theo cách ngược lại: nó để lại mọi sự cho những gì nó quý chuộng, và khi đã tìm ra điều đó, nó vẫn hoàn toàn đắm chìm trong điều đó, trao ban chính mình và từ bỏ chính mình hoàn toàn, như thể trong một cử chỉ duy nhất.

 

Chắc chắn, khi khởi sự cầu nguyện, chúng ta nên tỏa chiếu ánh sáng trên đức mến của mình: một mầu nhiệm đức tin, một lời hứa của Đức Giêsu Kitô, những gương lành và nhân đức của Người Con, Con Yêu Dấu của Chúa Cha; nhưng một khi tâm hồn cảm thấy hướng đến Thiên Chúa, chúng ta có thể hiến mình cho việc yêu mến Người tương ứng với những gì chúng ta thấy trong Người - và đức mến sẽ phát ra những ánh sáng rạng ngời trên chúng ta.

 

Cầu nguyện phải liên kết khắng khít với đức mến là sự trọn hảo của nó - Cầu nguyện phải gắn chặt chúng ta với Thiên Chúa, không phải qua các giác quan, nhưng ngang qua ý chí; và kéo chúng ta ra khỏi tất cả những gì làm Người buồn lòng về chúng ta, để chúng ta ngày càng trung thành, ngày càng ngập tràn tình yêu, theo thánh ý vô cùng thánh thiện và đáng yêu của Người.[29]

 

13. Kết luận về “các nhân đức đối thần” trong cầu nguyện

 

Chúng ta vừa xem bằng cách nào việc thực thi đức tin, đức cậy và đức mến làm nền tảng cho đời sống cầu nguyện. Đức tin càng vững mạnh, đức cậy càng xác tín và lòng khát khao yêu mến càng mãnh liệt, thì cùng lúc, việc cầu nguyện sẽ càng liên kết chúng ta với Thiên Chúa và trổ sinh hoa trái. Chúng ta không cần bất cứ điều gì khác.

 

Đức tin, đức cậy và đức mến có thể được thực thi trong cầu nguyện bằng vô vàn phương thế khác nhau và tôi sẽ trở lại chủ đề này sau. Nhưng chúng ta phải cẩn trọng để tập trung vào chủ đề đó và không để mình trở nên ám ảnh bởi những thứ yếu hay những gì phức tạp vô ích. Ngay cả khi chúng ta không cảm nhận một điều gì đặc biệt, cả khi trí tưởng tượng và trí năng chúng ta trống rỗng và có phần lơ là, thì chừng nào chúng ta vẫn đặt mình trước sự hiện diện của Thiên Chúa dù những thiên hướng của con tim vẫn còn đó, đôi khi lại bị giảm thiểu... mà chỉ còn lại một thái độ tín thác đầy yêu thương thì việc cầu nguyện của chúng ta vẫn sẽ có kết quả. Thiên Chúa sẽ tỏ mình và thông ban chính mình Người cho chúng ta một cách bí mật, một cách độc lập với bất cứ những gì gì mà giác quan chúng ta có thể nhận biết và với bất cứ ánh sáng nào trong tâm trí chúng ta. Người sẽ chôn giấu những kho báu trong tâm hồn chúng ta mà chúng ta sẽ ý thức dần dần. Đôi khi việc cầu nguyện của chúng ta rất khô khan và nguội lạnh, tuy nhiên, bởi trung thành với Thiên Chúa, Người vẫn bí mật dạy dỗ chúng ta mà chúng ta không để ý đến điều đó. Và cho đến lúc hành động, chọn lựa, đưa ra cho ai một lời khuyên, thì chính Thiên Chúa sẽ soi dẫn chúng ta. Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu đã trải nghiệm điều này như ngài minh chứng trong đoạn sau:

 

Để dạy các linh hồn, Đức Giêsu không cần sách vở hay các nhà bác học; Ngài, Thầy Dạy của mọi thầy dạy, dạy chúng ta mà không cần lời nào... Tôi đã không bao giờ nghe Ngài nói, nhưng tôi cảm nhận Ngài đang ở trong tôi mọi thời khắc, hướng dẫn và gợi hứng cho tôi làm gì hay nói gì. Đúng lúc tôi cần điều đó, tôi khám phá những luồng sáng mà trước đó tôi đã không thấy và rất thường, không phải khi tôi cầu nguyện mà những luồng sáng này rực rỡ nhất, nhưng đúng hơn, giữa những mối bận tâm thường nhật của tôi.[30]

 

 

 

 

[1]. Matta El Maskine (Father Matta El-Meskeen), L Expérience de Dieu dans la vie de prière (Bégrolles-en-Mauges, France: Abbaye de Bellefontaine, 1997), 30.

 

[2].  The Life of St. Teresa Avila by Herself, ch. 19.

 

[3].  St. Teresa of Avila, The Way of Perfection, ch. 21.

 

[4].  “đối thần” trong cụm tử này có nghĩa: có Thiên Chúa là đối thể chính và kết hiệp chúng ta với Thiên Chúa.

 

[5]. Chẳng hạn xem 1Tx 1, 3; 5, 8; 1Cr 13, 13.

 

[6].  Đường lên núi Carmel, quyển 2, ch.9.

 

[7].  Thánh nữ dùng lối diễn tả này trong một đoạn văn hay ở Thủ Bản C, nơi mà Thánh nữ (chỉ các chị gái) mô tả niềm vui cao độ của việc được cho một “em trai”-một linh mục thừa sai được giao cho thánh nữ cầu nguyện. X. Thủ Bản C, 32 recto.

 

[8]. Rm 11, 33.

 

[9]. Spiritual Canticle, Prologue.

 

[10]. “Đức Maria trao ban chính mình cách tuyệt diệu cho người trao ban chính mình hoàn toàn cho Mẹ”. Lòng Sùng Kính Đích Thực đối với Đức Trinh Nữ Maria, ch.4.

 

[11].  Ibid., ch.6.

 

[12]. Bức thư 197

 

[13]. Đêm Tối Tâm Hồn, quyển 2, ch. 21.

 

[14]. Thánh Angela Foligno, The Book of Visions and Instructions, ch.19.

 

[15]. Thánh Têrêxa Avila, The Book of Foudations, ch.5.

 

[16].  Tiểu sử, ch.22.

 

[17].  Lời mời gọi khinh dể chính mình này phải được hiểu đúng, đặc biệt hôm nay khi nhiều người, vì lý do tâm lý, có xu hương coi khinh chính mình, hạ thấp hay thậm chí ghét bản thân. Điều đó không có liên hệ gì với lòng khiêm tốn của Tin Mừng, vốn trái lại, cốt tại việc chấp nhận sự nghèo túng và giao hòa với sự yếu đuối của mình. “Khinh dể chính mình” ở đây phải được hiểu là nhận ra sự nghèo túng tận căn của mình trong khi đó chấp nhận nó cách bình an với lòng tin tưởng hoàn toàn vào Thiên Chúa.

 

[18]. Catherine de Bar, Adorer et adhérer, (Paris: Cerf, 1994), 112.

 

[19]. Ibid, 116.

 

[20]. Bức thư 197.

 

[21]. Catherine de Bar, Adorer et adhérer, 113.

 

[22]. Ibid., 111. Thủ Bản C, câu 16.

 

[23]. Thủ Bản C, câu 16.

 

[24].  Jean-René Bouchet (ed.), Paroles de Chartreux. Perspectives de vie religieuse (Paris: Cerf, 1987), 99.

 

[25].  Nhật ký, ch.8.

 

[26].  Bức thư 142 gửi chị Celine.

 

[27]. Thủ Bản A, câu 75.

 

[28]. Thủ Bản C, folio 3 recto.

 

[29]. Christiane Sanson, Marie de la Trinité, de langoisse à la paix (Paris: Cerf, 2005), 83-84.

 

[30]. Thủ Bản A, câu 83.