Home
Printer-friendly versionSend by email
-A A +A

03 Chương III

Tác giả: 
Lm Minh Anh

 

 

CHƯƠNG III

Sự Hiện Diện Của Thiên Chúa

 

Lạy Chúa là Thiên Chúa của con,

Ngài không ở xa những kẻ ngoảnh mặt
với Ngài,

Làm sao người ta có thể nói rằng
Ngài bỏ đi?

 

GIOAN THÁNH GIÁ[1]

 

Cầu nguyện là chào đón sự hiện diện của một ai đó. Vì thế quả là hữu ích khi suy gẫm về cách thức Thiên Chúa hiện diện với chúng ta. Người hiện diện bằng nhiều cách khác nhau: trong thụ tạo, trong Lời của Người khi Lời đó được thông truyền cho chúng ta trong Thánh Kinh, trong mầu nhiệm của Đức Kitô, trong Thánh Thể, bằng cách cư ngụ trong tâm hồn chúng ta .v.v... Tất cả các phương thế hiện diện khác nhau này không có cùng bản chất; chúng cần được phân biệt nhau; và chúng ta không thể đặt chúng trên cùng một bình diện. Tuy nhiên, tất cả đều có tầm quan trọng của chúng và có thể hướng dẫn chúng ta cầu nguyện. Bây giờ chúng ta hãy xét xem chúng.

 

Chúng ta cần làm rõ điều này: Ở đâu Thiên Chúa hiện diện, ở đó Người cũng ẩn mình. Dù là trong thiên nhiên, trong Thánh Thể, giữa tâm hồn... Người thực sự hiện diện ở đó nhưng một sự hiện diện mà các phương thức nhận biết của con người không thể lĩnh hội được. Không sự xem xét, phân tích tâm lý, thí nghiệm khoa học, kính hiển vi hay máy quét nào có thể tìm thấy sự hiện diện của Người bất cứ nơi đâu. “Khí cụ” duy nhất, có thể nói thế, có thể tiếp cận và khám phá sự hiện diện này, là khí cụ mà chúng ta tốn nhiều giấy mực trong chương trước: “đức tin ngập tràn đức mến”, theo ngôn từ của chị Thánh Marie Ba Ngôi.

 

Thiên Chúa hiện diện một cách mật thiết trong mọi thực tại và Người không ao ước gì hơn là tỏ mình ra; nhưng Người lại là một Thiên Chúa ẩn mình. “Quả thực, Ngài là Thiên Chúa ẩn mình, ôi Thiên Chúa của Israel, Đấng Cứu Độ” (Is 45, 15). Cách duy nhất để mang Thiên Chúa ra khỏi nơi Người ẩn núp là tìm kiếm Người với lòng yêu mến. Đức tin và đức mến “xé tan khăn che phủ này”, trái lại, mọi phương tiện khác đều vô dụng. Không thể tìm thấy và chiếm hữu Thiên Chúa ngoại trừ bằng đức tin và đức mến, bởi Người không muốn hiệp nhất với chúng ta bằng bất cứ cách thức nào khác ngoại trừ qua một cuộc gặp gỡ đầy yêu thương.

 

Nhưng tự bản chất, tình yêu không lệ thuộc vật chất hay bằng chứng khoa học nào: chúng ta chỉ có thể cảm nhận nó bằng sự tín thác. Đôi lúc chúng ta mong Thiên Chúa hiện diện hữu hình hơn, thuyết phục hơn, chúng ta mong mình có thể chứng minh điều đó cách rõ ràng để những kẻ không tin thấy là họ sai; nhưng đó là điều không thể khi chúng ta còn lữ thứ trên trần gian này. Không có cách nào khác... hoặc Thiên Chúa thôi không còn là vị Thiên Chúa van nài tình thương của chúng ta và tôn trọng tự do của chúng ta. Thiên Chúa không muốn chúng ta gán cho Người bất cứ điều gì ngoài tình yêu. Thiên Chúa tỏ mình cho chúng ta không qua những sự thể hiện hay những chứng cứ hấp dẫn, nhưng ngang qua các dấu chỉ vốn thường kín đáo, ám hiệu, mời gọi, gợi lên một sự gắn chặt của đức tin về phía chúng ta. Không có cách nào để giữ lại sự hiện diện của Thiên Chúa ngoại trừ một hành vi đức tin.

 

Nhưng từ khi đôi mắt đức tin mở ra và một hành vi đức tin được thực hiện cách chân thành, chúng ta có thể tiếp cận toàn bộ thực tại về sự hiện diện của Thiên Chúa và những nguồn mạch phong phú của tình yêu.

 

Giờ đây, tôi xin mô tả một vài khía cạnh về sự hiện diện của Thiên Chúa có vai trò quan trọng trong việc định hướng đời sống cầu nguyện chứ không cố liệt kê tất cả.

 

1. Sự hiện diện của Thiên Chúa
trong thiên nhiên

 

Trước tiên, Thiên Chúa nói với chúng ta nơi thọ tạo của Người. Người biểu lộ sự tốt lành, quyền năng và khôn ngoan của Người ngang qua thế giới chung quanh chúng ta. Thánh Gioan Thánh Giá thường dẫn các tập sinh đến vùng quê để cầu nguyện. Cha Alexander Men thường nói, một chiếc lá giá trị hơn một ngàn bức tượng, và điều này được một linh mục Chính Thống Nga xác quyết một cách vô cùng mạnh mẽ.

 

Chiếc lá đến cách trực tiếp, có thể nói thế, từ bàn tay Thiên Chúa. Khi còn là một đứa trẻ, Thánh Gioan Kronstadt (cũng là một linh mục Chính Thống Nga), người yêu thiên nhiên sâu sắc, đôi lúc dừng chân trước một đoá hoa và thì thầm: “Chúa đó!”[2] Rõ ràng đây không phải là vấn đề rơi vào phiếm thần - Thiên Chúa và thọ tạo của Người hoàn toàn khác biệt nhau - hay một thứ thần thánh hóa thiên nhiên nào đó; nhưng trong thiên nhiên chúng ta có thể nhận ra dấu vết của tình yêu Thiên Chúa. Thật xúc động khi thấy tất cả các vị thánh bàng hoàng biết bao trước vẻ đẹp của thế giới và nhận ra tình yêu và sự khôn ngoan của Thiên Chúa trong các thụ tạo. Hãy nghĩ đến Bài Ca Thọ Tạo của thánh Phanxicô Assisi và các bài thơ thần nghiệm của thánh Gioan Thánh Giá. Cả hai đều tìm thấy dấu vết của vẻ đẹp Thiên Chúa khi chiêm ngắm thiên nhiên.

 

Ôi những khu rừng rậm rạp đến đen kịt

Được trồng bởi bàn tay của Đấng Dấu Yêu

Ôi những đồng cỏ xanh tươi

Những cánh đồng hoa nở rộ

Hãy báo cho tôi nếu Người đi ngang qua ngươi

Gieo rắc ngàn ân sủng

Người vụt qua những lùm cây này;

Người nhìn chúng

Và chỉ nét phản chiếu trên gương mặt Người

Cũng mặc cho chúng bằng vẻ đẹp của Người.[3]

 

Người đương thời bị tách khỏi thiên nhiên; sống trong một thế giới chỉ còn là một vũ trụ vật liệu, bê tông và mọi loại màn hình. Con người là tù nhân của một thế giới tự tạo, một thế giới ảo, một phóng chiếu những tưởng tượng của riêng nó thay vì tiếp xúc với thọ tạo. Do đó, đôi lúc con người bị tách khỏi Thiên Chúa - và khỏi chính mình.

 

Thánh Vịnh 19 bảo chúng ta, “Trời xanh tường thuật vinh quang Thiên Chúa”. Từ thời mới có Thánh Kinh, các tín hữu đã luôn chiêm ngắm vinh quang Thiên Chúa như nó được phản ánh trong vẻ đẹp của thọ tạo. Chủ nghĩa duy lý hiện đại làm cho chúng ta không còn có thể cảm nhận điều này; và đó là điều đáng tiếc, vì với sự phát triển của quá nhiều lĩnh vực tri thức khoa học, chúng ta có nhiều hơn người của Thánh Kinh và thời Trung Cổ cả ngàn lý do để cảm phục trước sự khôn ngoan và quyền năng của Thiên Chúa. Những hình ảnh của các dãi ngân hà xa xôi được vệ tinh Hubble gửi về; cảnh quang của thế giới biển sâu; những điều đáng kinh ngạc mà chúng ta đã học được về bộ mã gen, vụ nổ Big Bang, cấu trúc nguyên tử - tất cả những điều này cũng đủ làm cho các tín hữu kinh ngạc, bởi họ biết tất cả những điều này không phải là sản phẩm của sự ngẫu nhiên và sự cấp thiết nhưng là hoa trái của tình yêu sáng tạo của Thiên Chúa. Điều này đặc biệt đúng nếu chúng ta xác tín như thánh Louis-Marie de Monfort đã xác tín bởi sự kiện Thiên Chúa sử dụng nhiều quyền năng và khôn ngoan trong việc hướng linh hồn đến ơn cứu độ hơn trong việc sáng tạo toàn thể vũ trụ.[4]

 

Cách đây vài năm, tôi đã bay đến Lebanon để giảng tĩnh tâm. Không có gì để đọc, tôi mua một cuốn sách tại sân bay. Cuốn sách do Hubert Reeves viết, với tựa đề Những Tin Tức Mới Nhất về Vũ Trụ. Tôi là một nhà khoa học được đào tạo, nhưng từ khi gia nhập Cộng Đoàn, tôi không có cơ hội cập nhật những sự phát triển mới nhất của ngành nghiên cứu vũ trụ học. Quyển sách này được viết bởi một nhà vật lý thiên văn vốn là một người theo thuyết bất khả tri nhưng tác giả lại hăng say nói đến những gì khoa học thế kỷ hai mươi khám phá về nguồn gốc và sự phát triển của vũ trụ.

 

Tôi phải nói cuốn sách một cuốn sách thiêng liêng này hữu ích cho tôi gấp mười lần cuốn sách thiêng liêng! Trong đó, tôi học được những điều đáng kinh ngạc, như là vũ trụ hiện tại của chúng ta giãn nở trên hàng tỉ năm ánh sáng nhưng từ đầu, chỉ nhỏ vừa bằng cái đầu đinh; hay thân thể của chúng ta được cấu tạo bởi các nguyên tử hiện hữu nơi các ngôi sao nổ ở cuối đời của chúng cách đây vài tỉ năm, ném vào vũ trụ vật chất mà về sau sẽ được sử dụng để xây dựng trái đất và cư dân của nó. Khi khám phá điều này, tôi tự nhủ mình có lý do hợp lý để tự hào về Thiên Chúa của mình!

 

Đơn giản hơn, vẻ đẹp của hoàng hôn trên biển, trò chơi duyên dáng của những chú sóc nhảy từ cành này sang cành nọ, sự huy hoàng của một đêm đầy sao... rõ ràng là những lời Thiên Chúa nói với chúng ta để chúng ta sẽ tín thác vào Người và can đảm phó mình cho sự khôn ngoan của Người. Chiêm ngắm thiên nhiên bằng đôi mắt có nhiều khả năng trong việc an ủi và củng cố chúng ta. Đi tản bộ trong một vùng quê xinh đẹp, đón lấy bằng mọi giác quan của chúng ta thế giới như nó được trao ban, cảm tạ về vẻ đẹp của trời và đất..., có thể hun đúc việc cầu nguyện của chúng ta; vì thế, hãy học cách tận dụng điều đó. Tiếp xúc với thiên nhiên có thể dễ dàng trở thành cách chấp nhận sự hiện diện đầy khôn ngoan và yêu thương của Thiên Chúa trong đời sống chúng ta, đồng thời nung nấu tình yêu và lòng tín thác của chúng ta đối với Người.

 

2. Thiên Chúa trao ban chính mình
trong nhân tính của Đức Kitô

 

Trong kế hoạch cứu độ vốn là trọng tâm của Kitô giáo, phương tiện thiết yếu, nhờ đó, Thiên Chúa tỏ mình ra cho con người là nhân tính của Đức Kitô. “Ðiều mắt chẳng hề thấy, tai chẳng hề nghe, lòng người không hề nghĩ tới, đó lại là điều Thiên Chúa đã dọn sẵn cho những ai mến yêu Người” (1Cr 2, 9). Nhờ cuộc Nhập Thể của Chúa Con, mà Thiên Chúa trở thành, theo cách mạnh mẽ nhất, Emmanuel, Thiên Chúa ở cùng chúng ta.

 

Tất cả mọi sự mà bằng cách này cách khác đặt chúng ta trong sự liên hệ với nhân tính của Đức Kitô đều mang chúng ta vào sự hiện diện của Thiên Chúa. Điều này bao gồm việc khiêm tốn kêu cầu danh thánh Chúa Giêsu, chiêm ngắm các sự kiện trong cuộc đời Ngài từ Nhập Thể cho đến Thăng Thiên vinh hiển, suy gẫm các hành động và lời nói của Ngài, chăm chú nhìn vào một bức tượng hay thánh giá, trò chuyện thân mật với Đức Giêsu, Đấng mà chúng ta hình dung từ phía mình như một người bạn tốt và trung thành nhất trong số những người bạn, chầu Thánh Thể, lần hạt Mân Côi .v.v...Từ thời các tông đồ cho đến hôm nay, người Kitô hữu, được Thánh Thần và sáng kiến của tình yêu hướng dẫn, đã học cách làm cho Đức Giêsu và cuộc đời của Ngài thành cuộc đời của mình bằng hàng trăm ngàn cách khác nhau, và khi làm thế, họ đã đón nhận mầu nhiệm Thiên Chúa vào trong chính mình. Nhận thức này là khởi đầu của những thể thức cầu nguyện và sùng kính khác nhau vốn nuôi dưỡng đời sống Giáo Hội.

 

Nhân tính của Đức Giêsu là cánh cửa vừa khiêm tốn vừa ẩn giấu đối với nhiều người, bất hạnh thay. Cánh cửa này dẫn chúng ta vào mọi nguồn sung túc của mầu nhiệm Thiên Chúa, vào nguồn sung mãn của sự sống Ba Ngôi Chí Thánh. Chúng ta không thể nói hết điều này được; Giáo Hội sẽ không bao giờ hoàn tất việc khám phá các kho tàng ánh sáng và ân sủng ẩn chứa nơi Đức Giêsu và đi đến chỗ sở hữu chúng ngang qua đức tin và đức mến. Thánh Gioan Thánh Giá nói rằng, mọi kho tàng ẩn giấu mà các Tiến Sĩ Hội Thánh và các thánh đã khám phá nơi nhân tính của Ngôi Lời thì không là gì so với những gì vẫn chờ được khám phá[5], vì “nơi Ngài, ẩn giấu mọi kho báu sự khôn ngoan và hiểu biết Thiên Chúa” (Cl 2, 3).

 

Bất cứ điều gì liên kết chúng ta với Đức Kitô bằng cách này hay cách khác, ngang qua thân thể, các giác quan, con tim, khối óc và ý chí... đều dẫn chúng ta vào mối hiệp thông với sự hiện diện và sự sống của Người.  Đó là một khía cạnh căn bản của cầu nguyện Kitô giáo.

 

3. Sự hiện diện của Thiên Chúa trong tâm hồn chúng ta

 

Một trong những khía cạnh về sự hiện diện của Thiên Chúa có tính quyết định nhất đối với đời sống cầu nguyện là sự hiện diện của Người trong tâm hồn chúng ta. Tôi đã nói một ít về điều này trong chương trước, qua hình ảnh “cái giếng”, nhưng ở đây, tôi muốn nói nhiều hơn.

 

Thiên Chúa sống trong chúng ta, với một sự hiện diện đích thực và ẩn giấu, đó là một chân lý đức tin. Đức Giêsu bảo, “Nước Thiên Chúa ở giữa các ông” (Lc 17, 21). Thánh Phaolô nói Đức Kitô ở trong tâm hồn chúng ta ngang qua đức tin (x. Eph 3, 17) và thân thể chúng ta là đền thờ của Chúa Thánh Thần (1Cr 6, 19).

 

Một thầy dòng Hy Lạp thời Trung Cổ nói, “Bạn là đền thờ, đừng tìm nơi nào khác nữa!”[6]

 

Thiên Chúa hiện diện trong chúng ta không những bởi Người là Đấng Tạo Hóa “trong Người chúng ta sống, cử động và hiện hữu” (Cv 17, 28), mà còn như là ân sủng và tình yêu, vốn dần dần trở nên mạnh hơn khi tình yêu lớn lên trong tâm hồn chúng ta. “Ai yêu mến Thầy thì sẽ giữ lời Thầy, Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy, và chúng ta sẽ đến và ở với người ấy” (Ga 14, 23). Nhờ bí tích Rửa Tội, cả Ba Ngôi Chí Thánh đến ở trong chúng ta và sự hiện diện của Thiên Chúa được bày tỏ cách cao độ khi đức tin và đức mến triển nở.

 

Hiệu quả đơn giản nhưng tuyệt đối căn bản của chân lý này là sự hồi tâm - đi vào chính mình - là một chiều kích thiết yếu của cầu nguyện. Chúng ta rút vào trong chính mình để gặp Thiên Chúa sống ở đó. Sự hiện diện của Người không phải là một điều gì đó có thể cảm nghiệm hay cảm nhận: trước tiên là một điều gì đó chúng ta tin, một đối thể của đức tin. Nhưng nếu thực hiện hành vi đức tin, và tùy theo những gì chúng ta tin, nỗ lực hồi tưởng thường xuyên, đi vào trong chính mình để gặp gỡ Thiên Chúa, Đấng đang chờ đợi chúng ta, thì đức tin sẽ dần trở thành một kinh nghiệm đích thực đối với chúng ta. Chúng ta sẽ biết sự thật rằng, mình thực sự được xâm chiếm trong bản ngã thâm sâu nhất của mình, bởi một nguồn bình an, thánh thiện, tinh tuyền, hạnh phúc vô biên... và nguồn ngọn này chính là Thiên Chúa, với toàn bộ sức sống sung mãn và ân ban dồi dào của Người.

 

Như chúng ta biết, trước khi trở thành nhà thần nghiệm, Thánh Têrêxa Avila gặp khó khăn rất nhiều trong việc cầu nguyện. Thánh nữ chia sẻ đời sống cầu nguyện của bà đã được biến đổi thế nào nhờ việc khám phá sự hiện diện của Thiên Chúa trong bà. Đoạn sau đây là một ví dụ:

 

Vậy hãy nghĩ điều mà Thánh Augustinô nói: Augustinô tìm Thiên Chúa khắp nơi và cuối cùng gặp được Thiên Chúa trong chính ngài. Bạn có nghĩ điều đó không có ý nghĩa nhiều đối với một linh hồn thường xao lãng để hiểu chân lý này và biết rằng nó không cần phải lên tận trời để trò chuyện với Cha Vĩnh Cửu và sống hạnh phúc với Người; nó biết mình không cần phải cầu nguyện to tiếng nhất có thể? Tuy thế, dù linh hồn nói nhỏ nhẹ đến đâu, Thiên Chúa vẫn sẽ nghe nó nói; nó không cần phải chấp cánh để bay đi tìm Người, nó chỉ cần một mình đi đến nơi nào đó, nhìn vào chính mình và đừng ngạc nhiên khi tìm thấy một kho báu quý giá đến thế. Với tất cả lòng khiêm tốn, hãy để nó trò chuyện với Người như là Cha, khẩn khoản Người như người Cha, tìm sức mạnh trong Người như người Cha và luôn nhận ra rằng, nó không xứng để được Người là Cha của nó.

 

Một ví dụ khác từ tác phẩm của thánh nhân:

 

Hẳn bạn sẽ nhạo tôi và nói rằng, điều đó rõ như ban ngày và bạn cười là đúng, bởi tôi đã mù mờ về điều đó một thời gian. Tôi hiểu, tôi có một linh hồn, nhưng linh hồn đáng được gì và ai ở trong đó, tôi không biết, bởi chính những phù vân cuộc đời đã bịt mắt tôi. Nếu trước đây tôi hiểu như bây giờ tôi đang hiểu một cách rõ ràng rằng, trong cung điện nhỏ bé của tâm hồn tôi, một vị Vua lớn lao đến thế đang sống, thì tôi nghĩ mình đã không bỏ Người một mình thường xuyên như vậy, nhưng tôi sẽ liên lỉ bầu bạn với Người và sẽ cố gắng làm cho cung điện của Người ít bụi bẩn hơn. Nhưng còn gì tuyệt diệu hơn khi nhìn thấy Đấng bao trùm hàng ngàn thế giới bằng sự cao cả của mình lại ẩn mình trong một vật thể nhỏ nhắn như thế! Đây là cách Ngài chọn ở trong cung lòng của Đức Thánh Trinh Nữ Maria. Vì Ngài là Chúa nên Ngài mang trong mình sự tự do, và vì Ngài yêu thương chúng ta, Ngài ăn khớp với kích cỡ chúng ta. Khi một linh hồn bắt đầu cất bước trên con đường này, Ngài sẽ không tỏ mình ra, vì e rằng, linh hồn đó sẽ khó chịu khi thấy mình quá nhỏ bé để chứa đựng một điều gì đó quá lớn lao; nhưng dần dần, một cách rất dịu dàng, Ngài mở rộng tâm hồn vừa kích cỡ với những gì Ngài đặt vào trong linh hồn. Đó là lý do tại sao tôi nói Ngài mang nơi mình sự tự do, vì Ngài có quyền làm cho một cung điện linh hồn trở nên lớn hơn. Điểm chính yếu là chúng ta phải tuyệt đối cương quyết trao linh hồn cho Ngài, và chúng ta phải khai sáng linh hồn để Ngài có thể đặt cái này vào và đưa cái kia ra, như trong nhà của Ngài. Đây là điều kiện Ngài đặt ra, và là phán quyết đúng đắn của Đức Vua; chúng ta đừng từ chối mời Ngài vào.

 

Trước nguy cơ có thể sẽ quá dài dòng, tôi cũng không cưỡng lại cám dỗ trích một đoạn hay từ tác phẩm của Thánh Gioan Thánh Giá vốn diễn tả cùng một điều đó bằng một văn phong rất khác:

 

Chúng ta hãy nhận thức đầy đủ điều này: Ngôi Lời, Con Thiên Chúa, cư ngụ qua bản thể và sự hiện diện của mình với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần, trong chính bản thể của linh hồn, và ẩn mình ở đó. Linh hồn nào khát khao tìm thấy Thiên Chúa ở đó, phải bỏ lại đằng sau, đối với ý chí và tình cảm, mọi thọ tạo; linh hồn phải đi vào trong chính mình và ở đó... trong sự hồi tưởng sâu sắc rằng mọi thọ tạo đối với nó như thể chúng không tồn tại.

 

Như thế, Thiên Chúa ẩn mình nơi linh hồn, và chính ở đó mà người chiêm niệm đích thực phải tìm kiếm Người, thưa lên rằng: “Ngài ẩn mình ở đâu?”.

 

Vì thế, hỡi linh hồn là thọ sinh xinh đẹp nhất trong tất cả các loài thọ tạo, ngươi khát khao cháy bỏng biết nơi tìm ra Người Yêu Dấu của ngươi để có thể tìm thấy Người và nên một với Người; xem này, ngươi nhận được câu trả lời ở đây: ngươi chính là nơi Người ngự, là chốn ẩn náu của Người. Người mang lại cho ngươi biết bao niềm vui và an ủi! Kho tàng của ngươi, đối tượng của niềm cậy trông, thì quá gần ngươi đến nỗi Người ở bên trong ngươi, hay đúng hơn ngươi không thể không có Người. Hãy lắng nghe chính Tân Lang nói với ngươi như thế, “Nước Thiên Chúa ở giữa các ông” (Lc 17, 21). Về phần mình, tôi tớ Chúa là Thánh Phaolô Tông Đồ bảo chúng ta, “Chúng ta là đền thờ của Thiên Chúa hằng sống” (2Cr 6, 16). Quả là một niềm an ủi lớn lao cho linh hồn khi nó biết rằng Thiên Chúa không bao giờ lìa xa nó. Ngay cả tội trọng cũng không làm cho Người bỏ rơi chúng ta. Đối với linh hồn đầy ân sủng thì có biết bao lý do hơn để làm cho Người ở lại trong một linh hồn!

 

Linh hồn yêu quý, ngươi còn mong ước gì hơn nữa? Ngươi còn tìm gì bên ngoài khi ngươi sở hữu bên trong những kho tàng, niềm vui, thú vui, sự thỏa mãn và vương quốc, tức là Đấng Dấu Yêu mà ngươi ngước vọng và là đối tượng mà ngươi tìm kiếm? Hãy vui lên, hãy nhảy mừng trong sự hồi tưởng của ngươi, trước sự đồng hành của Đấng ở kề cận ngươi. Hãy tôn sùng Người trong ngươi và đừng bao giờ cố tìm Người bên ngoài.[7]

 

Chúng ta có thể trích vô số đoạn từ các tác giả linh đạo Kitô giáo, cùng diễn tả sự kỳ diệu và lời mời gọi nhờ đức tin để nên một với Thiên Chúa, Đấng ở trong tâm hồn chúng ta. Trong cuộc đời chúng ta, có những lúc dành cho những hoạt động bên ngoài và những mối tương quan giữa những con người... nhưng chúng ta cũng cần phải có khả năng bắt lấy những thời khắc để tách mình khỏi mọi sự hầu tìm kiếm Thiên Chúa bên trong chính mình, bằng một dịch chuyển đơn giản lặng lẽ, hồi tưởng và chú tâm bên trong đến sự hiện diện của Đấng đang ở trong chúng ta.

 

Nếu tập được thói quen này một cách kiên trì trong suốt thời gian nguyện gẫm, nhưng cũng ngắn ngọn và thường xuyên trong công việc thường nhật, chúng ta sẽ thấy rằng, dần dần, ngay cả khi hết sức bận rộn, chúng ta vẫn hiệp thông với Thiên Chúa và có thể múc lấy mọi năng lượng, mọi khôn ngoan và mọi bình an từ sự hiện diện mật thiết của Người. Vậy sẽ không còn sống hời hợt, kích động, vô trật tự và vội vã nữa, nhưng chúng ta thực sự quy hướng về tâm hồn mình, nơi Thiên Chúa cư ngụ.

 

Chính nhờ có thể tách mình thường xuyên ra khỏi mọi sự và mọi người để tìm thấy Thiên Chúa bên trong chính mình mà chúng ta sẽ có thể kết hiệp với mọi người và mọi sự cách hữu hiệu.

 

Hạnh phúc thay linh hồn nào tìm thấy Thiên Chúa trong chính mình. Linh hồn đó hạnh phúc hơn cả khi nó thôn tính được cả thế giới![8]

 

Để kết luận, chúng ta cần lưu ý, kho tàng đang ở trong chúng ta. Việc kiếm tìm những kho báu đích thực bên trong khiến chúng ta tự do hơn với của cải trần tục.

 

4. Cầu Nguyện Bằng Lời Chúa[9]

 

Một phương thức hiện diện khác của Thiên Chúa làm nền tảng cho đời sống cầu nguyện: sự hiện diện của Người trong Thánh Kinh. Thiên Chúa thông truyền chính Người ngang qua lời Thánh Kinh. Thiên Chúa sống trong lời của Người; đón nhận lời và suy tư về lời trong tâm hồn chúng ta có nghĩa là đón nhận món quà hiện diện và tình thương của Người. Nếu ai đó hỏi, “Tôi phải làm gì để tận dụng tối đa thời gian đã quyết định dành cho việc cầu nguyện?”. Tôi nghĩ câu trả lời tốt nhất là khuyên họ bắt đầu từ việc suy gẫm Thánh Kinh. Hiển nhiên, điều này không có nghĩa là loại trừ những hình thức cầu nguyện khác (chúng ta sẽ bàn đến một số trong phần tiếp theo). Nhưng việc cầu nguyện của bạn cần được nuôi dưỡng cách thiết yếu bởi Lời Thiên Chúa.

 

Một trong những điều đáng yêu về Thánh Kinh là Thiên Chúa không chỉ trò chuyện với chúng ta, nói với tâm hồn chúng ta... mà còn cho chúng ta lời trong đó để chúng ta đáp lại. Chẳng hạn, các Thánh Vịnh chứa đựng một nguồn mạch không hề vơi để diễn đạt lời cầu nguyện và giúp chúng ta tìm ra thái độ đúng đắn đối với Thiên Chúa. Vì thế, Thánh Kinh là nền tảng mọi cuộc đối thoại đích thực với Thiên Chúa. Đời sống cầu nguyện của chúng ta càng được nuôi dưỡng bởi Thánh Kinh, càng trung thực sâu sắc... sẽ càng dẫn đến một cuộc gặp gỡ đích thực với Người.

 

Trong quá khứ gần đây, các tín hữu Công Giáo nói chung ít sử dụng Thánh Kinh. Chúng ta biết rằng Công Đồng Vaticanô II mong muốn đưa Thánh Kinh trở lại trung tâm của đời sống Công Giáo biết bao. Chúng ta chỉ cần gợi lại những lời của Hiến Chế Dei Verbum:

 

Giáo Hội luôn tôn kính Lời Chúa như tôn kính Thân Thể Chúa Kitô, bởi vì đặc biệt trong phụng vụ thánh, Giáo Hội không ngừng đón nhận và trao ban bánh hằng sống từ cả bàn tiệc Lời Chúa lẫn bàn tiệc Thánh Thể. Giáo Hội luôn duy trì cả hai và tiếp tục làm thế, cùng với Thánh Truyền, như quy luật tối thượng của đức tin, bởi vì khi được Thiên Chúa linh hứng và dấn thân một lần thay cho tất cả vào việc viết ra, cả hai thông truyền lời của chính Thiên Chúa mà không thay đổi và làm cho giọng nói của Thánh Thần vang vọng trong lời của các ngôn sứ và các Tông Đồ. Vì thế, như chính Kitô giáo, mọi việc rao giảng của Giáo Hội phải được nuôi dưỡng và điều khiển bởi Thánh Kinh. Vì trong các sách thánh, Chúa Cha ở trên trời gặp con cái Người với tình yêu cao cả và trò chuyện với chúng; sức mạnh và quyền năng trong lời Thiên Chúa quá lớn đến nỗi nó như nguồn nâng đỡ và nguồn năng lượng của Giáo Hội, sức mạnh đức tin cho con cái Giáo Hội là lương thực nuôi sống linh hồn, là nguồn tinh tuyền và không hề vơi của đời sống thiêng liêng. Do đó, những lời này được áp dụng cách trọn hảo cho Thánh Kinh: “Vì lời Thiên Chúa thì sống động và hữu hiệu” (Dt 4, 12), “lời có sức xây dựng và ban cho anh em được hưởng phần gia tài cùng với tất cả những người đã được thánh hiến” (Cv 20, 32; x. 1Tx 2, 13). Cần giúp mọi Kitô hữu tiếp cận dễ dàng với Thánh Kinh.[10]

 

Công Đồng dùng những từ ngữ mạnh mẽ ở đây: Lời Thiên Chúa là sức mạnh của đức tin, là lương thực của linh hồn, là nguồn tinh tuyền và bền vững của đời sống thiêng liêng. Công Đồng cũng đưa ra một loại suy giữa Thánh Thể và Lời. Ngôn ngữ của Thánh Kinh là ngôn ngữ của con người, với đôi lúc cả sự nghèo túng, giới hạn, tối nghĩa, nhưng ngang qua đó, Thiên Chúa thực sự thông ban chính mình cho chúng ta. Suy gẫm Thánh Kinh thì hơn cả việc suy tư một bản văn và lấy ý tưởng từ đó; trong tiến trình của cầu nguyện và đức tin, chúng ta đón nhận một Sự Hiện Diện trao ban chính mình cho chúng ta. Chỉ gẫm suy những câu Thánh Kinh thôi, nếu làm với đức tin và đức mến, thì điều đó vẫn có thể thôi thúc chúng ta đi vào hiệp thông mật thiết với Thiên Chúa. Như trong Thánh Thể, trong Lời của Người, Thiên Chúa cũng trao ban chính mình làm của ăn nuôi sống chúng ta.

 

Lắng nghe Lời giúp chúng ta đi vào kết hiệp thân tình với Thiên Chúa. Trong đời sống của các cặp vợ chồng yêu nhau, đối thoại của họ, lời họ trao đổi... tạo nên sự thân mật, tạo nên một không gian cho sự hiệp thông và trao hiến cho nhau; đôi lúc được ân thưởng với thân xác mà họ trao cho nhau. Tương tự, lắng nghe Lời Chúa, những âm vang mà nó gợi lên trong tâm hồn chúng ta và sự đáp trả bằng lời cầu nguyện, cũng được nuôi dưỡng bởi Thánh Kinh phát sinh từ Lời, tạo nên một không gian mật thiết và trao hiến cho nhau giữa Thiên Chúa và kẻ tin.

 

Tất cả chúng ta, mọi Kitô hữu đọc Thánh Kinh, tìm kiếm Thiên Chúa trong đó với một hành vi đức tin chân thành và khiêm tốn, sẽ thường xuyên có một trải nghiệm tuyệt diệu: dù đã được viết cách đây hàng thế kỷ trong một bối cảnh lịch sử hoàn toàn khác với bối cảnh của chúng ta, nhưng đoạn Thánh Kinh này vẫn chạm đến chúng ta và ngỏ cùng chúng ta với sự chính xác phi thường, nối kết với chúng ta trong những gì chúng ta trải nghiệm giờ này, và bảo chúng ta cách rõ ràng những gì chúng ta cần lắng nghe từ Thiên Chúa. Chúng ta thực sự cảm thấy rằng, bản văn này từ Isaia, câu này từ một trong các Thánh Vịnh hay từ một bức thư, đã được viết cho riêng chúng ta thôi!

 

Trải nghiệm này không dành riêng cho các nhà thần nghiệm lớn hay các chuyên gia chú giải Thánh Kinh; nhưng dành cho mọi Kitô hữu. Và đặc biệt hôm nay: với tư cách là người tín hữu, đời sống chúng ta đang trải qua những hoàn cảnh khó khăn và vì thế, Thiên Chúa đang mở những kho tàng Lời Chúa cách phong phú hơn bao giờ hết cho những người bé mọn và nghèo hèn. Tôi tuyệt đối đoan chắc rằng, người tín hữu đơn sơ nhất và ít học nhất cũng có thể khám phá trong Thánh Kinh các kho tàng ánh sáng và khôn ngoan mà không ai đã từng khám phá trước đó. Thánh Kinh nói với tâm hồn mỗi người, cách độc nhất và cá vị.

 

Tôi xin đưa ra một bằng chứng vắn tắt của riêng mình. Cách đây vài năm, tôi đã trải qua một thời kỳ khó khăn được đánh dấu bởi chán nản, thất vọng, cảm giác đau khổ về những yếu đuối riêng...Tôi đã trải qua vài ngày ở tu viện Biển Đức để đặt trong bàn tay Thiên Chúa nỗi buồn, và những câu hỏi còn bỏ ngỏ của tôi .v.v...Tham gia đọc Kinh Thần Vụ, tôi để mình được ru ngủ bởi những Thánh Vịnh được cất lên. Và đang khi hát thánh ca, tôi nghe được câu: “Linh hồn tôi hỡi, hãy trở lại nghỉ ngơi, vì Thiên Chúa đã đối xử hào phóng với ngươi” (Tv 116, 7). Rồi tôi cảm thấy ngang qua những lời đơn sơ đó, Thiên Chúa nói trực tiếp với tâm hồn tôi và tôi tìm thấy niềm an ủi và sức mạnh lớn lao trong những lời đó.

 

5. Lời Chúa và sự phân định

 

“Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước, là ánh sáng dẫn đường con đi” (Tv 119, 105). Thường xuyên đọc lời Chúa là một nhu cầu sống còn, vì chỉ Lời Chúa mới có thể chiếu tỏa ánh sáng chân lý về cuộc đời chúng ta. Khả năng phân định mà Lời Chúa cưu mang được thể hiện rõ ràng trong trích đoạn sau từ Thư gửi Tín Hữu Do thái:

 

“Lời Thiên Chúa là lời sống động, hữu hiệu và sắc bén hơn cả gươm hai lưỡi: xuyên thấu chỗ phân cách tâm linh, cốt với tuỷ; lời đó phê phán tâm tình cũng như tư tưởng của lòng người. Vì không có loài thọ tạo nào mà không hiện rõ trước Lời Chúa, nhưng tất cả đều trần trụi và phơi bày trước mặt Ðấng có quyền đòi chúng ta trả lẽ” (Dt 4, 12-13).

 

Thánh Kinh như tấm gương giúp chúng ta biết mình cách thực sự, cả mặt tốt lẫn mặt xấu. Thánh Kinh xua trừ những thỏa hiệp với sự dữ, sự mù tối và thái độ đối nghịch với Tin Mừng; nhưng nó cũng phô bày những điều tốt nhất trong chúng ta, trả tự do và cổ võ chúng. Nó đạt đến điểm phân cách giữa tâm với linh; nói cách khác, nó giúp chúng ta phân định giữa một ý hướng tâm lý (phát sinh từ nhân tính bị tổn thương của chúng ta) và những gì là thiêng liêng (phát sinh từ sức mạnh của tình yêu). Sử dụng hình ảnh tấm gương, Thánh Giacôbê mời gọi chúng ta nhìn cách thâm sâu vào trong Lời mà ngài gọi là “luật tự do trọn hảo” (Gc 1, 25), và giữ mối liên hệ với Lời và tìm niềm hạnh phúc trong việc thực hành Lời.

 

Thường xuyên trải lòng mình ra với Lời Chúa là một điều tốt đối với chúng ta. Chỉ Lời Chúa mới có thể giúp ta phân định sâu xa và thành thực trong đời sống. Không phải chúng ta tác động trên Thánh Kinh nhưng Thánh Kinh tác động trên chúng ta. Ngày lại ngày, chúng ta cần để cho mình được Lời Chúa tác động và nhào nặn, bằng đoạn này hay đoạn kia. Điều đó có nghĩa là đánh liều, bởi vì một đôi khi, Lời Chúa nói những điều chúng ta không muốn nghe, nhưng rốt cuộc Lời Chúa hướng đến sự sống, tự do và bình an. Dù Lời Chúa sửa đổi hay ủi an chúng ta chăng nữa, nó vẫn mang lại cho chúng ta sự sống. Đây là những gì Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II nói trong Tông Thư Khởi Đầu Ngàn Năm Mới, Novo Millennio Ineunte:

 

Việc lắng nghe Lời Chúa phải đặc biệt trở thành một cuộc gặp gỡ trao ban sự sống, theo truyền thống xa xưa và giá trị của lectio divina, vốn rút ra từ bản văn Thánh Kinh lời sống động vốn chất vấn, hướng dẫn và định hình đời sống chúng ta.

 

Chúng ta không thể hiểu ngay tức khắc mọi điều trong Thánh Kinh. Chúng ta sẽ gặp một số đoạn mù mờ và cả những thậm chí cả gây sốc. Nhưng nếu chân thành tìm kiếm, một tia sáng sẽ soi rọi cho chúng ta; một câu đặc biệt sẽ trở nên rõ ràng và ngỏ những lời hay ý đẹp với tâm hồn chúng ta. Đức Kitô Phục Sinh sẽ mở tâm trí chúng ta nhờ Thánh Thần của Ngài như Ngài đã làm với các Tông Đồ, “để hiểu Thánh Kinh” (Lc 24, 45). Sự khai trí này chỉ có thể đến dần dần, nhưng đó là một trải nghiệm đích thực.

 

Điều gì làm cho sự soi sáng bên trong vốn giúp chúng ta tiếp cận với các kho tàng Lời Chúa này trở nên khả thi? Tôi nghĩ, điều thiết yếu là lòng khát khao hoán cải đích thực. Nếu chúng ta đọc Thánh Kinh khi cầu nguyện, tin rằng Thiên Chúa đang chờ đợi chúng ta ở đó, và trong nỗi khắc khoải chờ mong Lời Người chạm đến tâm hồn chúng ta, chỉ cho chúng ta thấy tội lỗi của mình, dẫn chúng ta đến sự hoán cải đích thực, và nếu chúng ta quyết tâm thực hành những gì Người bảo chúng ta, thì Thánh Kinh sẽ soi chiếu cho chúng ta. Đó là bí quyết chính của khoa chú giải.

 

Tôi không có ý nói những gì khác đều vô ích. Nghiên cứu Thánh Kinh, nếu chúng ta có cơ hội, là một điều tốt. Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu muốn biết tiếng Hy Lạp và Do Thái cổ. Việc huấn luyện chú giải Thánh Kinh có thể vô cùng giá trị, nhưng đừng bao giờ quên rằng, các kho tàng của Thánh Kinh không mở ra cho các kẻ khôn ngoan và thông thái nhiều cho bằng mở ra cho những người chỉ tìm kiếm một điều: đó là yêu mến Thiên Chúa hơn và quay về với Tin Mừng.

 

6. Lời như vũ khí chiến đấu

 

Việc làm quen với Lời Chúa thì cần thiết hơn cả, ở chỗ nó là vũ khí không thể thiếu cho cuộc chiến thiêng liêng. Trong chương 6 Thư gửi Tín hữu Êphêxô, Thánh Phaolô cổ võ những người nhận thư can đảm tin tưởng chấp nhận cuộc chiến là một phần tất yếu của mọi đời sống Kitô hữu đích thực:

 

“Kỳ dư, anh em hãy phấn chấn mạnh mẽ trong Chúa, trong sức oai hùng của Ngài. Hãy mặc lấy giáp binh của Thiên Chúa, để anh em có thể đứng vững trước mưu chước ma quỷ” (Eph 6, 10-11).

 

Sau đó không lâu, Thánh Phaolô mô tả những phần khác nhau của chiếc áo giáp mà chúng ta cần mặc để “chống lại sự dữ và đứng vững”. Điều cuối cùng - nhưng không phải là ít quan trọng nhất - mà thánh nhân đề cập đến là “thanh gươm của Thánh Khí, đó chính là Lời Chúa”.

 

Điều này mời gọi chúng ta ý thức đầy đủ hơn vị thế của Thánh Kinh như một sự trợ giúp không thể thiếu để vượt qua những cuộc chiến và những thử thách trong cuộc sống này.

 

Cậy dựa vào Thánh Kinh trong những cuộc chiến mà chúng ta xúc tiến là một vấn đề sống còn. Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II nói, một Kitô hữu không cầu nguyện là một Kitô hữu thường xuyên nguy hiểm.[11] Tương tự, tôi xin nói rằng, một Kitô hữu không không có thói quen đọc Lời Chúa là một Kitô hữu thường xuyên nguy hiểm. “Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn nhờ mọi lời do miệng Thiên Chúa phán ra” (Dt 8, 3). Bởi mọi rối rắm trong tâm trí những người chung quanh cùng những lý lẽ mà các phương tiện truyền thông nhồi nhét và cả bởi những yếu đuối của chính mình, chúng ta không thể làm được gì mà không có ánh sáng và sức mạnh vốn có thể múc lấy từ Thánh Kinh.

 

Tin Mừng Nhất Lãm, đặc biệt là Tin Mừng Marcô cho thấy đám đông dân chúng được đánh động thế nào bởi năng quyền từ lời của Đức Giêsu, “Và người ta kinh ngạc về giáo huấn của Ngài, vì Ngài dạy dỗ họ như Ðấng có uy quyền, chứ không như các ký lục” (Mc 1, 22). Và một lúc sau, “Thế nghĩa là gì? Thật là một giáo huấn mới, một cách có uy quyền! Ngài truyền khiến được cả các thần ô uế, và chúng vâng lời Ngài!” (Mc 1, 27).

 

Thẩm quyền tạo ấn tượng mạnh đến thế trên người nghe có hai khía cạnh. Khía cạnh đầu tiên là Đức Giêsu nói nhân danh chính Ngài chứ không dựa trên thẩm quyền của bất kỳ ai khác. Bằng cách này, Đức Giêsu tách mình ra khỏi giáo huấn thông thường của các rabbi thời đó, những người không bao giờ nói bất cứ điều gì mà không quy chiếu đến các bậc tiền nhân khôn ngoan (dĩ nhiên có thêm vào những cảm nghiệm cá nhân của họ). Đức Giêsu không phải là khúc nối trong sự chuyển thông Lời Chúa; Ngài chính là Lời tận nguồn gốc và căn nguyên của nó.

 

Khía cạnh thứ hai của thẩm quyền trong Lời của Đức Giêsu là quyền năng và hiệu quả của Lời đó. Khi Đức Giêsu trừ quỷ, quỷ không kháng cự nhưng bỏ chạy. Khi Ngài ra lệnh cho biển gặp bão, “Câm đi, im đi!” thì biển liền lặng như tờ - không những các cơn sóng mà cả tâm hồn bị kích động, hoảng sợ của các môn đệ cũng lặng yên (Mc 4, 39). Khi Ngài bảo người phụ nữ tội lỗi, “Tội con đã được tha” (Lc 7, 48), ngay lập tức chị cảm thấy mình như một người khác, được thanh luyện, được giao hòa với Thiên Chúa và với chính mình nơi tận thâm sâu của hữu thể, được mặc nhân phẩm mới và hạnh phúc với con người của chị.

 

Thẩm quyền này không ở đó để nghiền nát chúng ta: trái lại, chính thẩm quyền được mang đến để chống lại sự dữ, kẻ thù của chúng ta và kẻ Tố Cáo. Chính thẩm quyền ủng hộ chúng ta, củng cố và an ủi chúng ta. Chúng ta cần học cách bám víu vào thẩm quyền này của Lời Chúa, Lời mang nơi mình sức mạnh mà không một lời nào của con người có được.

 

Sẽ có những lúc thẩm quyền mang lại ích lợi của Lời Chúa trở thành dây an toàn của chúng ta. Vào những lúc nào đó của cơn thử thách, phương thế duy nhất để đi đúng đường là dựa vào, không phải những tư tưởng và khả năng lý luận loài người (mà điểm yếu căn bản của chúng thì quá hiển nhiên) nhưng dựa trên lời của Thánh Kinh. Chính Đức Giêsu, khi bị ma quỷ cám dỗ trong sa mạc, đã dùng Thánh Kinh để kháng cự. Nếu chúng ta vẫn ở mức lý luận và tính toán của con người mà thôi, thì ngày kia tên Cám Dỗ sẽ cho thấy nó xảo trá và mạnh hơn chúng ta bội phần. Chỉ Lời Chúa mới có thể giải giáp nó.

 

Tất cả chúng ta đều đã có trải nghiệm này hoặc sẽ có trong tương lai. Nếu chỉ dừng lại ở mức độ suy tư vào những lúc gặp rắc rối, hoài nghi hay thử thách nào đó, chúng ta sẽ không thể tìm ra bất cứ phương cách nào. Chẳng hạn, nếu chúng ta cố gắng hãm dẹp những điều lo sợ khi lo cho tương lai bằng cách đề ra những phương án cho bản thân, sẽ có nguy cơ chúng ta rơi vào bế tắc. Vì giữa những lý do khiến chúng ta lo lắng và những lý do cho chúng ta an lòng, chúng ta sẽ không bao giờ có thể đoan chắc rốt cuộc lý do nào sẽ thắng thế - và rõ ràng, lý trí không thể thấy trước và kiểm soát mọi sự. Thay vì chất chồng ngày càng cao các lý lẽ, thì cách duy nhất để hướng về phía tích cực (phía của sự tin tưởng, hy vọng và bình an) là chúng ta hãy đặt một cụm từ Thánh Kinh vào ý thức và cậy dựa vào nó với niềm tin trọn vẹn, chẳng hạn “Đừng lo cho ngày mai” (Mt 6, 34), hay “Hỡi đoàn chiên nhỏ bé, đừng sợ, vì Cha anh em đã vui lòng ban Nước của Người cho anh em” (Lc 12, 32) hoặc “Ngay đến tóc trên đầu anh em cũng được đếm cả rồi” (Lc 12, 7).

 

Bình an đích thực không đến như kết quả của một tiến trình lý luận của con người. Nó chỉ có thể phát sinh từ việc để cho tâm hồn mình gắn kết với những điều Thiên Chúa hứa với chúng ta qua Lời Người. Khi hoài nghi hay bối rối, bằng một hành vi đức tin, chúng ta bám chặt vào một lời hứa trong Thánh Kinh, thẩm quyền của lời đó sẽ trở thành nguồn động viên và sức mạnh cho chúng ta. Đó không phải là chiếc đũa thần kỳ làm cho chúng ta miễn dịch trước mọi phức tạp và mọi thống khổ, nhưng khi bám vào Lời Chúa cách tín thác, chúng ta sẽ tìm thấy một sức mạnh nhiệm mầu mà không gì khác có thể cung cấp. Nó có năng lực đặc biệt giúp ta đứng vững trong hy vọng và bình an, dù điều gì xảy ra chăng nữa. Quy chiếu đến lời Thiên Chúa hứa với Abraham, Thư gửi Tín Hữu Do Thái giải thích rằng, “Lời thề là một bảo đảm chấm dứt mọi tranh chấp giữa người ta với nhau” (Dt 6, 16). Lời Chúa, được đón nhận trong đức tin, có khả năng chấm dứt sự do dự và lý luận thiếu vững chắc của chúng ta, giúp chúng ta đứng vững trong chân lý và bình an. Nhiều hy vọng mà Lời này mang lại là “cái neo vững vàng và chắc chắn của linh hồn” (Dt 6, 19).

 

Thánh Kinh chứa đựng vô số đoạn có thể làm nguồn động viên giá trị cho chúng ta trong các cuộc chiến. Nếu chúng ta cảm thấy cô đơn và bị bỏ rơi, (Is 49, 15), nếu chúng ta cảm thấy Thiên Chúa quá xa lạ, thì Thánh Kinh nói rằng, “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28, 20). Nếu chúng ta cảm thấy bị giày vò bởi tội lỗi, thì Thánh Kinh đáp lại rằng, “Ta sẽ không nhớ tội con” (Is 43, 25). Nếu chúng ta cảm thấy mình thiếu những nguồn cần thiết để tiến bước trong cuộc sống, thì một trong những Thánh Vịnh sẽ mời gọi chúng ta thực hiện hành vi đức tin này, “Chúa là mục tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì” (Tv 23, 1).

 

Đừng để một ngày nào trôi qua mà không dành vài phút để suy niệm về một đoạn Thánh Kinh. Đôi lúc nó có vẻ khô khan và khó hiểu, nhưng nếu trung thành đọc cách đơn sơ trong cầu nguyện, nó sẽ chìm sâu vào ký ức mà chúng ta thậm chí không nhận ra điều đó. Và vào ngày mà chúng ta cần nó, giữa nghịch cảnh, câu đó hay một câu khác sẽ gợi lên trong tâm trí chúng ta một cách chính xác những gì chúng ta cần để phục hồi hy vọng và bình an.

 

 

[1].  Jean de Cronstadt, Ma vie en Christ (Abbaye de Belleiontaine, 1979), 11; cf. John of Kronstadt, My Life in Christ (Cassell & Co. Ltd, 1897), 36. Maxim 50 (hoặc 47, hoặc 48), Saying of Light and Love.

 

[2].  Spiritual Canticle, strophes 4 and 5.

 

[3]. Xem phần đầu của The Secret of Mary.

 

[4].  Được trích trong (Anon.), La Prière de Jésus (Chevetogne, 1964), 34.

 

[5]. Way of Perfection, ch. 28.

 

[6].  Ibid.

 

[7].  Spiritual Canticle, B, I, 6-8.

 

[8]. Catherine de Bar, Adorer et adhérer, 36.

 

[9]. Trong phần này, tôi lấy lại điểm mà tôi đã suy tư dài trong Chương 3 của cuốn sách tôi viết Called to Life. (Được Gọi Để Sống, bản dịch Việt ngữ của Lm. Minh Anh, người dịch chú thích).

 

[10].  Dei Verbum, 21-22.

 

[11]. Novo Millenio Ineunte, số 34.