Home
Printer-friendly versionSend by email
-A A +A

05 Các vấn đề tôn giáo

Tác giả: 
Lm Đan Vinh

 

 

ĐỐI THOẠI VỀ NHỮNG VẤN ĐỀ KHOA HỌC VÀ ĐỨC TIN

 

CHƯƠNG V

 

CÁC VẤN ĐỀ VỀ TÔN GIÁO

I.PHẢI CHĂNG TÔN GIÁO LÀ THUỐC PHIỆN ?

 

VẤN ĐỀ 17:

 

Tôn giáo chỉ là thuốc phiện ru ngủ quần chúng, là sự gian dối, mị dân và mê tín dị đoan. Ai theo đạo là người ngu.

 

GIẢI ĐÁP :

 

A. TRÌNH BÀY:

 

KARL MARX, một triết gia người Đức thuộc thế kỷ thứ 19 (1818-1883), đã tỏ ra bức xúc bất mãn khi chứng kiến cảnh giai cấp tư bản Âu Châu bóc lột sức lao động của giới thợ thuyền thời bấy giờ. Ông quyết định phải làm cách mạng để giành lại quyền làm chủ cho giai cấp công nhân, chấm dứt cảnh “người bóc lột người”. Tuy nhiên, trong cuộc đấu tranh giai cấp ấy, K. Marx thấy những trở ngại lớn lao từ tôn giáo. Theo K. Marx: những giáo lý của đạo Ki-tô dạy về cách ứng xử từ bi bác ái, nhẫn nại tha thứ, vâng phục quyền bính… sẽ làm nhụt nhuệ khí đấu tranh của giai cấp công nhân. Do đó, ông chủ trương: muốn tiêu diệt chế độ phong kiến thối nát và bất công thì trước hết phải tiêu diệt tôn giáo. Từ đó, ông mở ra một chiến dịch tuyên truyền chống lại tôn giáo, coi tôn giáo như thuốc phiện ru ngủ quần chúng, là sự gian dối, mị dân và mê tín dị đoan. Ông phi bác các mầu nhiệm của tôn giáo vì xem ra vô lý không thể chấp nhận được …

 

Vậy sự thật thế nào ? Tôn giáo có phải là thuốc phiện ru ngủ quần chúng, là sự gian dối mị dân và mê tín dị đoan hay không ? Những mầu nhiệm của Ki-tô giáo có đáng tin hay không ?

 

1. Tôn giáo phải chăng là thuốc phiện ru ngủ quần chúng ? :

 

- Lập luận để chống đối tôn giáo của K. Marx không dựa trên cơ sở lý luận vững chắc, mà chỉ là một phương thế để đấu tranh, giúp cuộc cách mạng của giai cấp công nhân thành công mà thôi. Chính thái độ của một số giáo phẩm thời đó không chịu dấn thân vào thực tế đời sống, không chú trọng tới việc cải thiện xã hội theo tinh thần Tin Mừng … là nguyên nhân khiến K. Marx lên án Giáo Hội, coi tôn giáo là thuốc phiện mê hoặc quần chúng. Tổng giám mục HELDER CAMARA đã lý giải về vấn đề này như sau: “Nếu Marx đã thấy chung quanh mình một Giáo Hội nhập thể và tiếp tục công trình nhập thế của Chúa Ki-tô. Nếu ông đã sống với những giáo dân biết sống giới răn yêu thương bằng lời nói và hành động như Chúa mời gọi. Nếu ông đã sống vào thời Công Đồng Va-ti-ca-nô II, theo đó giáo lý về những thực tại trần gian được chính thức công nhận, thì chắc ông đã không coi tôn giáo là thuốc phiện ru ngủ quần chúng và đã không lên án Giáo Hội là phản động mê hoặc dân đen” (Révolution dans la paix, Tr. 31).

 

- Thực vậy đức tin chân chính không phải là thuốc phiện ru ngủ quần chúng, mà trái lại, chính nhờ tin có Thiên Chúa là Đấng tạo thành trời đất, là Đấng công minh vô cùng, thưởng kẻ lành trên thiên đàng và phạt kẻ dữ xuống hỏa ngục sau khi chết… mà người tín hữu sẽ cố gắng sống lương thiện ngay từ đời này, sẽ thương yêu giúp đỡ và quên mình phục vụ tha nhân, nhất là phục vụ những kẻ nghèo hèn bất hạnh và bị bỏ rơi… Họ làm những việc ấy không do ai ép buộc, nhưng hoàn toàn tự giác tự nguyện … Cũng chính vì có đức tin mà người tín hữu nhìn thấy Chúa Giê-su hiện thân trong những người nghèo, để phục vụ họ như phục vụ chính Chúa (x. Mt 25,40). Cũng vì có đức tin mà rất nhiều người đã chọn nếp sống tu trì khổ hạnh, để dành trọn thời giờ sức lực phục vụ cho người bất hạnh trong các trại mồ côi, dưỡng lão, trại cùi, trại nuôi người bị nhiễm HIV-AIDS… Như vậy thì tôn giáo ru ngủ quần chúng ở chỗ nào ?

 

2. Đức Tin phải chăng đồng nghĩa với mê tín ? :

 

- Mê tín là tin cách mù quáng và vô lý: Còn đức tin là tin có cơ sở và hữu lý. Thực vậy, một viên chức điều tra vụ án, phải dựa vào các bằng chứng tìm thấy ở hiện trường rồi tìm hiểu suy luận mới hy vọng tìm ra thủ phạm còn giấu mặt. Cũng vậy, người tín hữu cũng áp dụng  nguyên tắc nhân quả: dựa vào các bằng chứng xác thực, để tin có Thiên Chúa sáng tạo trời đất muôn vật và an bài cho chúng tồn tại và ngày càng tiến hóa nên tốt hơn. Tin như thế đâu phải mê tín, nhưng chứng tỏ là người khôn ngoan sáng suốt, từ cái đã biết có thể khám phá ra điều chưa biết.

 

- Trái lại những ai cố chấp khi bịt tai nhắm mắt trước thực tế hiển nhiên, tiên thiên phủ nhận sự hiện hữu của Thiên Chúa mới là người mê tín thực sự. Mê tín vì tin theo một lý thuyết không hợp lý chút nào !

 

3. Về những mầu nhiệm trong tôn giáo: phải chăng các chân lý mầu nhiệm đức tin đều khó hiểu và khó chấp nhận, là sự dối trá nhằm lừa gạt những người nhẹ dạ dễ tin ?

 

- Phải thừa nhận rằng: trong tôn giáo có những mầu nhiệm đức tin: Đây là những chân lý do Thiên Chúa vì tình yêu thương đã mặc khải cho loài người để họ tin và sống phù hợp  hầu được hưởng ơn cứu độ của Ngài. Tác giả thư gửi tín hữu Do Thái đã viết như sau: “Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ. Nhưng vào thời sau hết này, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Thánh Tử. Thiên Chúa đã nhờ Người mà dựng nên vũ trụ, đã đặt Người làm Đấng thừa hưởng muôn vật muôn loài” (Dt 1,1-2). Đức Giê-su Ki-tô chính là Thánh Tử của Thiên Chúa, từ trời đến dạy loài người con đường lên trời. Người cũng mặc khải các điều mầu nhiệm vượt quá tầm hiểu biết của chúng ta, và đến khi Thần Khí Sự Thật đến, các môn đề mới có thể lãnh hội được các chân lý mầu nhiệm ấy, như Đức Giê-su đã nói với các ông trước cuộc khổ nạn như sau: “Thầy còn nhiều điều phải nói với anh em, nhưng bây giờ anh em không có sức chịu nổi. Khi nào Thần Khí Sự Thật đến, Người sẽ dẫn anh em tới sự thật toàn vẹn (Ga 16,12-13a). Sau đây là một số mầu nhiệm mà con người thời nay khó lòng lãnh hội và khó chấp nhận tin theo như: Một Chúa Ba Ngôi, mầu nhiệm biến thể trong bí tích Thánh Thể, mầu nhiệm Đức Mẹ sinh con mà còn đồng trinh…(xem phụ chú).

 

- Tuy nhiên, cũng như một em nhỏ trình độ tiểu học sẽ đánh giá các định lý toán học, công thức lý hóa của bậc trung học đại học là những mầu nhiệm khó hiểu, nhưng không vì thế mà các em có thể kết luận các định lý công thức ấy không có giá trị. Về sau, khi học lên cao em sẽ có thể lãnh hội được những điều khó hiểu ấy. Cũng vậy, những điều mầu nhiệm trong giáo lý Công giáo tuy vượt quá tầm hiểu biết của con người chúng ta, nhưng vẫn đáng tin vì do chính Thiên Chúa mặc khải để ban ơn cứu độ cho loài người. Một khi được ơn Thánh Thần tác động, chắc chắn chúng ta cũng sẽ lĩnh hội được những điều mầu nhiệm ấy và sống theo để được hưởng ơn cứu độ.

 

- Sở dĩ những mầu nhiệm đức tin có giá trị và đáng tin vì những lý do như sau:

 

+ Khác với những chân lý khoa học không có sự bền vững: Hôm qua được mọi người công nhận, đến nay có thể bị phủ nhận nếu những khám phá khác có cơ sở hơn xuất hiện… Còn các chân lý đức tin do Thiên Chúa mặc khải sẽ luôn có giá trị bền vững mãi mãi.

 

+ Hơn nữa, Thiên Chúa là Đấng chân thật vô cùng nên sẽ không lừa dối chúng ta. Do đó, các chân lý đức tin mặc khải, tuy vượt quá tầm hiểu biết của con người, vẫn đáng tin và có giá trị cứu độ cho những ai tin nhận và sống theo các mầu nhiệm ấy.

 

+ Đàng khác, chính nhờ có những mầu nhiệm này, mà Thiên Chúa giáo được các triết gia đánh giá là một tôn giáo bắt nguồn từ trời, chứ không phải chỉ là sản phẩm của con người. SÁC-LƠ NI-CÔN (Charles Nicolle) đã phát biểu như sau: “May mắn thay trong Thiên Chúa giáo có những điều mầu nhiệm, nếu không thì tôi sẽ hoài nghi tôn giáo ấy là do trí óc loài người tạo ra. Chính các chân lý mầu nhiệm đã làm cho tôi vững tâm vì mầu nhiệm là dấu hiệu của Thiên Chúa”.

 

TÓM LẠI: Do quan niệm sai lạc về tôn giáo: tưởng rằng tôn giáo chỉ bao gồm một số mục tử còn nhiều bất toàn, hoặc đánh giá thấp về đức tin tôn giáo: coi tôn giáo chỉ là một mớ lý thuyết mang tính giáo điều, là phương cách để các người hành nghề tôn giáo lợi dụng trục lợi từ các tín hữu mê tín… Hoặc do nhìn tôn giáo ở dạng thấp kém… cản trở con đường cách mạng đi lên của mình, nên K. Marx đã quyết liệt chống đối tôn giáo. Nhưng tất cả những điều Marx đả kích đều không chính xác. Tôn giáo chân chính hay Ki-tô giáo không phải là thuốc phiện ru ngủ quần chúng nhưng là động lực giúp các tín hữu quên mình phục vụ tha nhân. Đức Tin tôn giáo gồm những điều cao siêu nhưng hợp lý chứ không mê tín cần phải dẹp bỏ; Mầu nhiệm đức tin là những chân lý mặc khải có cơ sở vững chắc chứ không phải là những điều huyền hoặc mê tín… Từ đó chúng ta có thể quả quyết như sau: Những lời đả kích tôn giáo của Karl Marx thực sự không phương hại đến Ki-tô giáo, là một tôn giáo chân chính nhằm phục vụ hạnh phúc con người.

 

B. PHÚT HỒI TÂM:

 

1) LỜI CHÚA: Đức Giê-su nói: “Thầy còn nhiều điều phải nói với anh em, nhưng bây giờ anh em không có sức chịu nổi. Khi nào Thần Khí Sự Thật đến, Người sẽ dẫn anh em tới sự thật toàn vẹn (Ga 16,12-13a).

 

2) LỜI CẦU:

 

LẠY CHÚA GIÊ-SU. Xin cho con biết nhìn thấy Chúa đang bị bỏ rơi trong những con người bất hạnh, nhờ đó con sẽ năng đến viếng thăm và quảng đại chia sẻ tình thương cho họ, tận tình giúp họ vượt qua hoàn cảnh khó khăn. Lạy Chúa, xin sai Thánh Thần đến đổi mới tâm hồn con và động viên con chu toàn sứ vụ làm chứng cho Chúa và giúp nhiều anh em về làm con cái Chúa.- AMEN.

 

LM ĐAN VINH - HHTM.

 


*************************

 

ĐỐI THOẠI VỀ NHỮNG VẤN ĐỀ KHOA HỌC VÀ ĐỨC TIN

 

II.VỀ CÁC MẦU NHIỆM TRONG ĐẠO CÔNG GIÁO

 

VẤN ĐỀ 18 :

 

Tôn giáo dạy nhiều điều khó hiểu, vô lý và không thể chấp nhận. Chẳng hạn: Một Thiên Chúa mà lại có Ba Ngôi, Chúa Giê-su hiện diện thực sự trong tấm bánh nhỏ, Đức Mẹ sinh con mà còn đồng trinh… Tóm lại là những điều huyên hoặc không đáng tin !

 

GIẢI ĐÁP:

 

A. TRÌNH BÀY:

 

Với trí khôn tự nhiên, lòai người chúng ta chỉ nhận biết có Đấng Tạo Hóa là Đấng tạo thành vũ trụ vạn vật trong thiên nhiên và an bài mọi sự có trật tự và ngày càng tiến hóa hòan thiện hơn. Tuy nhiên chính nhờ Lời Chúa mặc khải mà lòai người chúng ta mới biết về mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi. Vậy mặc khải nói gì về mầu nhiệm này? Vai trò của mỗi Ngôi thế nào trong công trình sáng tạo vũ trụ vạn vật và ban ơn cứu độ lòai người? Các nhà thần học đã dùng những hình ảnh nào để diễn tả về mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi hầu giúp chúng ta lãnh hội được phần nào về mầu nhiệm quan trọng này? Cuối cùng các tín hữu chúng ta phải sống mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi như thế nào?

 

1. MẦU NHIỆM MỘT CHÚA BA NGÔI TRONG THÁNH KINH:

 

1) Cựu Ước nhấn mạnh về một đức tin độc thần: Chỉ một Đức Chúa là Thiên Chúa độc nhất hiện hữu và là Đấng ban ơn cứu độ. Trong Cựu Ước, Thiên Chúa chưa mặc khải về mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi. Điều răn trọng nhất trong mười điều răn được Đức Chúa ban cho Ít-ra-en qua Mô-sê như sau:: “Ngươi không được có thần nào khác đối nghịch với Ta” (Xh 20,3). Ngôn sứ I-sai-a cũng tuyên sấm lời Thiên Chúa: “Trước Ta, chẳng có thần nào khác được hình thành. Và sau Ta cũng vậy. Chính Ta đây là Đức Chúa. Ngoài Ta ra, chẳng có ai cứu độ” (Is 43,10-11).

 

2) Tân Ước mặc khải về mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi:

 

- Tin Mừng Mát-thêu thuật lại câu chuyện Đức Giê-su chịu phép Rửa của Gio-an Tẩy Giả, trong đó có đề cập đến mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi như sau: “Khi Đức Giê-su chịu phép rửa xong, thì các tầng trời mở ra. Người thầy Thần Khí Thiên Chúa đáp xuống như chim bồ câu ngự trên Người. Và kìa, có tiếng từ trời phán rằng: “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người” (Mt 3,16). Tiếng phán từ trời là lời của Chúa Cha (Ngôi I), Đức Giê-su đang đứng dưới lòng sông là Chúa Con (Ngôi II) và chim bồ câu ngự trên Người là biểu tượng Chúa Thánh Thần (Ngôi III).

 

- Thánh Lu-ca trong Công vụ Tông đồ đã thuật lại bài giảng của Tông đồ Phê-rô nói về mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi: “Thiên Chúa Cha (Ngôi I) đã ra tay uy quyền nâng Người lên (Ngôi II), trao cho Người (Ngôi II) Thánh Thần (Ngôi III) đã hứa, để Người (Ngôi II) đổ xuống. Đó là điều anh em đang thấy đang nghe” (Cv 2,33).

 

- Tin Mừng Gio-an nhiều lần đề cập đến mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi như sau: “Thầy (Ngôi II) sẽ xin Chúa Cha (Ngôi I), và Ngài (Ngôi I) sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác (Ngôi III), đến ở với anh em luôn mãi (Ga 14,16)…

 

- Thánh Phao-lô diễn tả về Mầu Nhiệm Một Chúa Ba Ngôi trong lời chào như sau: “Nguyện xin ân sủng Đức Giê-su Ki-tô (Ngôi II), tình yêu của Chúa Cha (Ngôi I) và ơn thông hiệp của Chúa Thánh Thần (Ngôi III) ở cùng tất cả anh chị em” (2 Cr 13,13)…

 

2) NỘI DUNG MẦU NHIỆM MỘT CHÚA BA NGÔI:

 

a- Chỉ có Một Thiên Chúa và “Thiên Chúa là Tình Yêu” (1 Ga 4,7), nhưng Ngài lại có Ba Ngôi: Ngôi thứ Nhất là Cha, Ngôi thứ Hai là Con, Ngôi thứ Ba là Thánh Thần. Vì Ba Ngôi cùng chung một bản tính và cùng một quyền năng, nên trong Ba Ngôi, không Ngôi nào lớn hơn.

 

b- Về vai trò của Ba Ngôi:

 

- Chúa Cha sáng tạo: Khi sáng tạo vũ trụ vạn vật và loài người. Thiên Chúa Ngôi thứ Nhất xuất hiện như một người Cha. Ngài dùng Lời quyền năng (Ngôi Hai) làm cho vạn vật từ không xuất hiện (x. St 1,3), và tiếp tục quan phòng gìn giữ để các tạo vật ấy tồn tại, phát triển và tiến hóa ngày một hòan thiện hơn. Ngài cứu độ loài người bằng việc sai Con Một (Ngôi II) nhập thể cứu chuộc và ban Thánh Thần (Ngôi III) tiếp tục cứu độ lòai người qua Hội Thánh.

 

- Chúa Con cứu chuộc: Khi tới Giờ đã định, Chúa Cha (Ngôi I) sai Con Một là Chúa Con (Ngôi II) xuống thế làm người là Đức Giê-su Ki-tô (x. Ga 3,16). Người thi hành sứ vụ Thiên Sai bằng việc đi khắp nơi công bố Tin mừng Nước Trời, làm nhiều phép lạ cứu nhân độ thế, và cuối cùng tình nguyện chịu chết trên thập giá để đền tội thay cho loài người và sống lại để cứu độ loài người. Đức Giê-su chính là “Đấng Thiên Sai, Con Thiên Chúa hằng sống” (x. Mt 16,16), là “Con rất yêu dấu luôn làm hài lòng Cha” (Mc 1,11). Người là phản ảnh vẻ huy hoàng, là hình ảnh trung thực của bản thể Thiên Chúa (x. Dt 1,3). Ai thấy Người là thấy Chúa Cha (x. Ga 14,9).

 

- Chúa Thánh Thần thánh hóa: Thánh Thần tuôn đổ Thần khí ân sủng xuống trên các Tông đồ và các môn đệ trong lễ Ngũ tuần, ban ơn soi sáng giúp lương dân gia nhập Hội thánh, tiếp tục trợ giúp Hội thánh chu toàn ba sứ vụ của Chúa Giê-su: Một là làm ngôn sứ rao giảng Tin mừng; Hai là làm tư tế thánh hóa loài người nhờ cử hành các phép bí tích do Chúa Giê-su lập; Ba là làm vương đế phục vụ đoàn chiên được trao cho Hội Thánh… Đấng ấy là Chúa Ngôi Ba, hay Chúa Thánh Thần, Chúa Thánh Linh hay Thần Khí.

 

3) MỘT SỐ CÁCH DIỄN TẢ MẦU NHIỆM BA NGÔI KHI DẠY GIÁO LÝ:

 

Một Chúa Ba Ngôi là chân lý đức tin do Đức Giê-su Con Thiên Chúa làm người đã dạy, nhưng lại khó hiểu đối với trí khôn hữu hạn của lòai người. Nhằm giúp các tín hữu hiểu biết phần nào về mầu nhiệm này, các nhà thần học đã cố gắng diễn giải bằng các hình ảnh trong thực tế đời thường dù những hình ảnh này vẫn chưa diễn tả chính xác:

 

a- Thánh Pa-trick dùng hình ảnh lá cây “Tam diệp thảo”: tuy chỉ có một lá, nhưng do ba lá nhỏ dính liền với nhau.             

 

b- Thánh I-nha-xi-ô dùng hình ảnh một hợp âm trên dòng nhạc, gồm ba nốt nhạc chồng lên nhau.

 

c- Ngoài ra, chúng ta có thể diễn tả mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi bằng mấy hình ảnh đời thường như:

 

- Nước tuy chỉ là vật chất nhưng có thể xuất hiện dưới ba dạng là: Thể hơi, thể đặc và thể lỏng;

 

- Hình tam giác đều tuy chỉ là một hình, nhưng có ba góc và ba cạnh bằng nhau.

 

- Một người đàn ông trong gia đình tuy chỉ là một người nhưng có 3 vai trò: là “cha” đối với con cái, là “con” đối với ông bố, là “chồng” đối với vợ.

 

- Một cây viết chì tượng trưng một Thiên Chúa. Phần thân cây có ba mặt đều nhau, mỗi mặt tượng trưng cho một Ngôi vị Thiên Chúa.

 

4) SỐNG HIỆP THÔNG VÀ YÊU THƯƠNG NOI GƯƠNG CHÚA BA NGÔI:

 

a- Hiệp thông bằng việc tuyên xưng đức tin Một Chúa Ba Ngôi: Mỗi lần làm dấu thánh giá và đọc kinh Sáng Danh, người tín hữu tuyên xưng đức tin vào mầu nhiệm Ba Ngôi Thiên Chúa.

 

b- Hiệp thông bằng việc năng cầu nguyện với Chúa Ba Ngôi: Người tín hữu cần năng cầu nguyện với Thiên Chúa qua kinh Lạy Cha như Chúa Giê-su đã dạy (x Mt 6,9-13). Năng thưa chuyện với từng Ngôi là: Chúa Cha, Chúa Giê-su và Chúa Thánh Thần, ít nhất mấy lần mỗi ngày: buổi sáng khi vừa thức giấc, trước ba bữa ăn và trước lúc nghỉ đêm.

 

c- Nội dung những lời cầu nguyện với Thiên Chúa:

 

Đối với Chúa Cha chúng ta có thể cầu nguyện theo 5 nội dung như sau:

 

- Một là ngợi khen chúc tụng Chúa Cha

- Hai là tri ân cảm tạ Cha về những ơn lành hồn xác.

- Ba là sám hối xin lỗi Cha vì những sai phạm thiếu sót.

- Bốn là phó thác xin vâng ý Cha về mọi điều may rủi xảy đến.

- Năm là khiêm tốn cầu xin Cha ban ơn lành hồn xác cho mình cũng như tha nhân.

 

Đối với Chúa Giê-su, chúng ta có thể đặt mình vào hoàn cảnh của các nhân vật trong Tin Mừng để kêu cầu với Chúa Giê-su: “Lạy ông Giê-su, Con Vua Đa-vít. Xin thương xót tôi”; “Lạy Thầy xin cứu vớt con”; “Lạy Chúa xin hãy tránh xa con ra vì con là người tội lỗi”; “Bỏ Thầy con biết đi với ai? Vì chỉ có Thầy mới có lời ban sự sống đời đời”; “Lạy Thầy tôi tin, nhưng xin Thầy hãy trợ giúp lòng tin yếu kém của tôi”…

 

d- Sống yêu thương tha nhân noi gương Gia Đình Ba Ngôi Thiên Chúa: Người ta thường ví Chúa Ba Ngôi giống như một gia đình gồm Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Ba Ngôi yêu thương nhau làm khuôn mẫu cho các thành viên trong gia đình tín hữu, và tình yêu vị tha cho hết mọi người không trừ ai. Thánh Gio-an trong thư thứ nhất đã viết: “Thiên Chúa là Tình Yêu. Ai ở lại trong tình yêu thì ở lại trong Thiên Chúa và Thiên Chúa ở lại trong người ấy” (1 Ga 4,16b). “Nếu ai nói: Tôi yêu mến Thiên Chúa mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối: Vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy. Đây là điều răn mà chúng ta đã nhận được từ Người: Ai yêu mến Thiên Chúa thì cũng yêu thương anh em mình” (1 Ga 4,20-21).

 

II.MẦU NHIỆM THÁNH THỂ:

 

Đây cũng thực là một điều khó hiểu đối với tầm hiểu biết có giới hạn của con người: một tấm bánh và một chén rượu nho sau lời truyền phép “ Này là mình Thầy”, “Này là chén Máu Thầy…” của linh mục chủ tế trong thánh lễ, sẽ không còn là bánh rượu nữa, mà đã thực sự biến đổi trở thành Thịt Máu Chúa Giê-su. Vậy Đức Giê-su thiết lập bí tích Thánh Thể để làm gì ? Và đâu là bằng chứng cho thấy Người thực sự hiện diện trong hình bánh rượu sau lời truyền phép ?

 

1) Mục đích lập phép Thánh Thể:

 

Phép Thánh Thể chính là một bằng chứng của tình yêu vô biên của Đức Giê-su. Khi yêu ai, người ta thích ở gần người ấy, muốn được nghe những lời tâm sự của người mình yêu, muốn kết hiệp nên một với người yêu và muốn cho người yêu tất cả những gì mình có. Đức Giê-su cũng yêu thương các môn đệ tới tột cùng (Ga 15,12-13), nên đã chứng tỏ tình yêu bằng việc thiết lập bí tích Thánh Thể nhằm mục đích như sau:

 

a) Để có thể ở cùng các tín hữu: Đức Giê-su đã nói: “Và đây Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20).

 

b) Để nghe những lời tâm sự và an ủi nâng đỡ những ai chạy đến với Người: Chúa phán: “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi. Tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. Anh em hãy mang lấy ách của tôi và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng. Vì ách tôi êm ái và gánh tôi nhẹ nhàng” (Mt 11,28-30)

 

c) Trao ban chính thân mình Người làm của ăn nuôi sống linh hồn tín hữu: “Trong đêm bị nộp, Chúa Giê-su cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng tạ ơn, rồi bẻ ra và nói: “Anh em cầm lấy mà ăn, đây là Mình Thầy, hiến tế vì anh em. Anh em hãy làm như Thầy vừa làm để tưởng nhớ đến Thầy” (1 Cr 23-24). “Đây là bánh bởi trời xuống, ai ăn bánh này sẽ không phải chết… nhưng sẽ được sống đời đời. và bánh tôi sẽ ban chính là Thịt tôi để cho thế gian được sống.” (Ga 6,51).

 

2) Những bằng chứng Đức Tin về phép Thánh Thể:

 

Đây thuộc lãnh vực đức tin nên không thể chứng minh được bằng khoa học. Chúng ta tin không phải vì xem thấy, sờ nếm thấy, nhưng vì biết Chúa là Đấng toàn năng và chính Chúa đã phán dạy như vậy trong Tin Mừng.

 

a) Chúa dọn lòng người ta trước: Đức Giê-su biết việc Người sắp thiết lập bí tích Thánh Thể, để biến bánh rượu trở nên Mình Máu Thánh của Người, đối với loài người là điều không thể và rất khó chấp nhận, nên Người chỉ đề cập đến và thiết lập bí tích này sau khi đã làm nhiều phép lạ như: cho kẻ què được đi (x. Mt 9,6-8), kẻ câm nói được (x. Mt 9,32-33), kẻ mù được thấy (x. Mt 9,27-30), người chết sống lại (x. Ga 11,38-46)… Tất cả những phép lạ ấy chỉ chuẩn bị người ta đón nhận một phép lạ khác lớn lao hơn mà người ta không nghĩ đến. Đó là việc Người sẽ thiết lập bí tích Thánh Thể trong bữa tiệc Vượt Qua sau này.

 

b) Chúa tiên báo trước việc Ngài sẽ làm: Một hôm sau khi làm phép lạ nhân bánh ra nhiều nuôi 5000 người ăn no tại một khu rừng vắng, Đức Giê-su bắt đầu hé mở về việc sẽ lập bí tích này như sau: “Tôi là bánh trường sinh. Tổ tiên các ông đã ăn man-na trong sa mạc, nhưng đã chết. Còn bánh này là bánh từ trời xuống, để ai ăn bánh thì khỏi phải chết. Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ ban tặng chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống” (Ga 6,48-51).

 

Đức Giê-su vừa nói như vậy thì đã có nhiều người tỏ vẻ phản đối, cho rằng lời đó chướng tai khó nghe. Có môn đệ còn bỏ Người mà đi. Thấy vậy Đức Giê-su không những không cải chính mà còn hỏi các Tông đồ: “Điều đó anh em lấy làm chướng, không chấp nhận được ư ?” Nếu không có ý định lập bí tích Thánh Thể, mà chỉ có ý nói theo nghĩa tượng trưng, khi thấy môn đệ hiểu sai ý mình và bỏ đi, thì Người đã phải cải chính. Nhưng ở đây, không những không cải chính mà Người còn nhấn mạnh hơn về bí tích Thánh Thể mà Người sắp thiết lập. Cuối cùng Tin Mừng cho biết: “nhiều môn đệ rút lui, không còn đi với Người nữa” (Ga 6,66).

 

c) Chúa lập thực sự: vào ngày Thứ Năm Tuần Thánh khi Đức Giê-su biết sắp tới giờ Người phải xa lìa các môn đệ, Người đã thương yêu họ đến tột cùng, nên Người đã thực hiện ý định đã tiên báo trước đó là thiết lập bí tích Thánh Thể để ở với họ luôn mãi. Tin Mừng Mát-thêu thuật lại việc thiết lập bí tích Thánh Thể như sau: ”Cũng đang bữa ăn, Đức Giê-su cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, rồi bẻ ra, trao cho môn đệ và nói: “Anh em cầm lấy mà ăn, đây là Mình Thầy. Rồi Người cầm lấy chén dâng lời tạ ơn, trao cho môn đệ và nói: “Tất cả anh em hãy uống chén này, vì đây là máu Thầy., Máu Giao Ước, đổ ra cho muôn người được tha tội” (Mt 26,26–28).

 

Để việc này đươc tiếp tục cử hành cách vững bền sau này, Đức Giê-su truyền cho các Tông đồ: “Anh em hãy làm việc này mà tưởng nhớ đến Thầy” (Lc 22,19). Từ đó, các Tông đồ và các đấng kế vị đã thi hành lệnh cử hành Thánh Thể cho tới khi Chúa lại đến.

 

TÓM LẠI: Đây là một mầu nhiệm đức tin, một sự thật vượt quá giới hạn của giác quan con người. Tuy khó hiểu, nhưng không vô lý, vì Chúa là Đấng toàn năng và chân thật vô cùng. Người đã có thể biến nước lã thành rượu nho tại tiệc cưới Ca-na (x. Ga 2,1-11) và đã nhân năm chiếc bánh và hai con cá để nuôi năm ngàn người ăn no (x. Ga 6,11)… thì Người cũng làm được cho bánh rượu trở nên Thịt Máu của Người sau lời truyền phép trong thánh lễ, và truyền Hội thánh cử hành vào ngày Thứ Nhất hằng tuần để tưởng nhớ mầu nhiệm Tử Nạn và Phục Sinh của Người (Lc 22,19).

 

III.MẦU NHIỆM ĐỨC MẸ SINH CON MÀ CÒN ĐỒNG TRINH:

 

Theo thường tình, đứa con trong bụng mẹ là kết quả của tình yêu giao hợp vợ chồng. Nhưng nơi Thiên Chúa, Ngài muốn làm một công việc phi thường là dùng quyền năng để làm cho Đức Ma-ri-a sinh con mà còn đồng trinh như lời ngôn sứ I-sai-a tuyên sấm: “Này đây một trinh nữ sẽ thụ thai và sinh một con trai, đặt tên là Em-ma-nu-en” (Is 7,14). Khi truyền tin cho Trinh Nữ Ma-ri-a, sứ thần Gáp-ri-en còn nói về việc thụ thai cách đặc biệt như sau: ”Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà. Vì thế Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ là thánh, sẽ được gọi là Con Thiên Chúa” (Lc 1,35).

 

1) Những bằng chứng về sự đồng trinh của Đức Ma-ri-a

 

Về sự thụ thai đồng trinh của Đức Mẹ, công đồng La-tê-ra-nô đã khẳng định như sau : ”Đức Ma-ri-a sinh nở chẳng nhơ nhớp, thân mình vốn tinh tuyền, và sau khi sinh nở vẫn đồng trinh trọn đời”. Đức Giáo Hoàng Phao-lô IV cũng nói: “Đức Mẹ vốn luôn tinh trong tuyền vẹn, nghĩa là đồng trinh trước, đang và sau khi sinh”. Vậy đâu là bằng chứng ?

 

a) Bằng chứng về phía Đức Mẹ :

 

- Đức Ma-ri-a không sống theo thói trưng diện của người đời, trái lại Người luôn sống trầm lặng, ưa thích yên tĩnh, một mình ở nơi thư phòng vắng vẻ hầu dễ dàng kết hợp với Chúa (x. Lc 1,28). Người có thói quen chiêm niệm về các biến cố xảy ra như Tin Mừng đã ghi nhận: “Còn Ma-ri-a thì hằng ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy và suy đi nghĩ lại trong lòng” (Lc 2,19).

 

- Ngoài ra, Ma-ri-a còn chứng tỏ quí trọng nhân đức trong sạch qua thái độ “bối rối” khi thấy sự hiện diện đột ngột của Thiên sứ dưới hình dạng một nam nhân trong thư phòng của mình. Sự bối rối đó là dấu chứng tích cực về một tâm hồn có lòng yêu quí đức trinh khiết.

 

b) Bằng chứng về phía Thiên Chúa :

 

Tin Mừng thuật lại việc Đức Ma-ri-a đã thụ thai hài nhi Giê-su cách lạ lùng do quyền năng của Chúa Thánh Thần: Việc Chúa Cứu Thế giáng sinh xảy ra như sau: “Bà Ma-ri-a Mẹ Người đã thành hôn với ông Giu-se. Nhưng trước khi hai ông bà về chung sống, bà đã có thai do quyền năng Chúa Thánh Thần” (Mt 1,18; x. Lc 1,26-38). Thiên Chúa là Đấng toàn năng, đã có thể sáng tạo mọi sự từ hư không, thì cũng có thể bảo toàn sự đồng trinh của Đức Ma-ri-a  khi sinh con như lời sứ thần đã nói: “Vì đối với Thiên Chúa không có gì là không thể làm được” (Lc 1,37).

 

Nhưng có người thắc mắc:Tại sao Thiên Chúa lại làm công việc ngược đời: cho Đức Ma-ri-a thụ thai mà còn đồng trinh làm chi ?

 

Các nhà thần học công giáo đã lên tiếng như sau:

 

- Để chứng tỏ Đấng Cứu Thế có hai bản tính: bản tính Thiên Chúa và bản tính nhân loại. Là con Thiên Chúa toàn năng, nên Người không phải theo cách đầu thai thông thường như loài thụ tạo.

 

- Để bản tính nhân loại của Đức Giê-su khỏi mắc tội tổ tông truyền, vì Người không đầu thai giống như người phàm, không bị lệ thuộc theo dòng máu tội lỗi của con cháu A-đam E-và như bao người khác.

 

2) Một số nghi vấn về sự đồng trinh của Đức Ma-ri-a:

 

a) Nếu Đức Ma-ri-a đã sinh con thì sao còn có thể đồng trinh được?

 

Bình thường, theo khoa học thì người nữ không thể vừa sinh con lại vừa đồng trinh được. Nhưng trong trường hợp của Đức Ma-ri-a do chịu thai và sinh con cách đặc biệt nhờ quyền năng Chúa Thánh Thần nên ngài vẫn còn đồng trinh sau khi sinh con, như lời sứ thần đã giải thích với Ma-ri-a: “Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà. Vì thế, Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ là thánh, sẽ được gọi là Con Thiên Chúa” (Lc 1,35). Chính vì sinh con cách đặc biệt, nên Ma-ri-a sinh con mà không cần phải có bà đỡ, và ngay sau đó đã tự mình bọc con trong khăn vải rồi đặt nằm trong máng cỏ (x. Lc 2,7).

 

b) Dựa vào Tin Mừng, một số người cho rằng: sau khi sinh Chúa Giêsu, Đức Ma-ri-a đã ăn ở với ông Giu-se nên đã sinh ra nhiều người con khác như sau: “Khi tỉnh giấc, Ông Giu-se làm như sứ thần Chúa dạy và đón vợ về nhà. Ông không ăn ở với bà, cho đến khi bà sinh một con trai, và ông đặt tên cho con trẻ là Giê-su” (Mt 1,24-25). - “Bà sinh con trai đầu lòng, lấy tã bọc con, rồi đặt nằm trong máng cỏ (Lc 2,7). - “Ông không phải là con bác thợ mộc sao? Mẹ của ông không phải là bà Ma-ri-a; anh em của ông không phải là các ông Gia-cô-bê, Giô-xép, Si-mon và Giu-đa sao ? Và chị em của ông không phải đều là bà con lối xóm với chúng ta sao ? Vậy bởi đâu ông ta được như thế ?” (Mt 13,55-56).

 

- “Cho đến khi”: Thoạt mới nghe, người ta có cảm tưởng Đức Ma-ri-a đã không giữ đức đồng trinh nữa, sau khi sinh hài nhi Giê-su. Nhưng nếu xét kỹ, thì mấy chữ “cho đến khi” ở đây chỉ diễn tả một sự việc đang xảy ra, chứ không đặt ra giới hạn nào cả. Thánh Mát-thêu mô tả sự việc xảy ra như sau: Sau khi được sứ thần hiện ra trong giấc mơ và giải thích về thai nhi do Ma-ri-a đang cưu mang là do quyền năng Thánh Thần. Rồi sứ thần truyền cho Giu-se làm ba điều: Một là tiến hành làm lễ cưới để đón vợ về nhà. Hai là cho biết Ma-ri-a đã được thánh hiến cho Thiên Chúa qua việc Thánh Thần tác động cho Ma-ri-a thụ thai cách đặc biệt, giống như một nữ tu khấn trọn để thuộc về Chúa. Ba là Giu-se sẽ trở thành cha của hài nhi khi đứng ra đặt tên cho con trẻ là Giê-su. Sau khi thức dậy, Giu-se đã thi hành đúng ba lệnh truyên ấy: Ông tổ chức lễ cưới để đón Ma-ri-a về nhà mình (Điều 1), Ông không ăn ở với bà như các đôi vợ chồng khác (Điều 2). Cho đến khi Ma-ri-a sinh con trai đầu lòng thì Giu-se đặt tên cho con trẻ là Giê-su (Điều 3). Tin Mừng không viết : cho đến khi Ma-ri-a sinh con trai thì Giu-se lại ăn ở với Ma-ri-a như có người lầm tưởng.

 

- “Con trai đầu lòng”: Tiếng “con đầu lòng” theo ý nghĩa của La ngữ: Primogenitus nghĩa là “được sinh ra trước hết”. Đức Giê-su được gọi là Con Đầu Lòng không phải vì Đức Ma-ri-a Mẹ Người sẽ sinh thêm nhiều người con khác nữa. Ở đây, sở dĩ Lu-ca nhăc đến “con đầu lòng” vì muốn chuẩn bị sẽ tường thuật tiếp việc dâng con trong Đền Thờ theo Luật Mô-sê ấn định như sau: “Mọi con trai đầu lòng phải được gọi là của thánh, dành cho Chúa” (Lc 2,23). Đàng khác: có “con đầu lòng” không nhất thiết phải có đứa con thứ hai, thứ ba. Chẳng hạn: bà X mới sinh một cậu con trai, một bà bạn hỏi: “Đứa này là con thứ mấy của chị ?” – Bà ta trả lời: “Nó là con đầu lòng của tôi đấy”. Rõ ràng bà X chưa có đứa con thứ hai mà cũng nói đưa con đó là con “đầu lòng” của mình. Vậy tiếng “đầu lòng” ở đây chỉ có nghĩa là “đầu tiên”, chứ không hàm ý sẽ còn nhiều người con khác nữa.

 

- “Anh em” Chúa Giê-su: Có nhiều thứ anh em như anh em cùng lý tưởng, anh em họ hang bà con… chứ không nhất thiết phải là anh em ruột thịt. Về các anh em Đức Giê-su được nói tới trong Tin Mừng Mát-thêu cũng chỉ là những anh em họ hàng, giống như “anh em con chú con bác” theo tục lệ người Việt Nam chúng ta.

 

Theo Tin Mừng thì về họ nội, Đức Giê-su có 4 anh em là các ông: Gia-cô-bê, Giô-xép, Si-mon và Giu-đa (tất cả là anh con ông bác). Còn bên họ ngoại thì Tin Mừng cho biết Đức Giê-su có anh họ là ông Gio-an Bao-ti-xi-ta (x. Lc 1,36.59-63).

 

Đàng khác, chúng ta đừng quên Tin Mừng đã đề cao nhân đức của thánh Giu-se: “Ông Giu-se chồng bà là người công chính” (Mt 1,19). Công chính nghĩa là luôn tuân phục thánh ý Thiên Chúa, ăn ở theo đường lối của Ngài. Vậy một khi biết Ma-ri-a đã được Thiên Chúa chọn làm mẹ Đấng Cứu thế, đã thuộc trọn về Thiên Chúa như một nữ tu khấn trọn, thì chẳng lẽ Giu-se lại không tôn trọng điều ấy. Và nếu thực sự Đức Ma-ri-a còn có mấy người con khác ngoài Đức Giê-su, thì tại sao khi sắp chết trên thập giá, Đức Giê-su lại trối Mẹ của Người cho môn đệ Gio-an để phụng dưỡng thay mình như Tin Mừng viết: “Kể từ giờ đó, người môn đệ rước bà về nhà mình (Ga 19,26) ?

 

TÓM LẠI: Với những bằng chứng rõ ràng trong Thánh Kinh, những người có đức tin đều chấp nhận sự thật này là Đức Ma-ri-a đã được Thiên Chúa toàn năng ban cho đặc ân: Sinh con mà vẫn bảo toàn được đức khiết tịnh: “Đồng trinh trước khi, đang khi và sau khi sinh con”.

 

B. PHÚT HỒI TÂM:

 

1. LỜI CHÚA: “Khi Đức Giê-su chịu phép rửa xong, thì các tầng trời mở ra. Người thầy Thần Khí Thiên Chúa đáp xuống như chim bồ câu ngự trên Người. Và kìa, có tiếng từ trời phán rằng: “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người” (Mt 3,16).

 

2. LỜI CẦU:

 

Lạy Thiên Chúa Cha giàu long từ bi thương xót. “Chúa là Tình yêu”, đã biểu lộ tình yêu vô cùng đối với loài người khi sáng tạo trời đất muôn vật “vì và cho” loài người. Chúa còn sai Con Một là Chúa Giê-su từ trời xuống thế làm người để dạy loài người con đương lên trời, và đã chịu chết để đền tội thay và sống lại để ban ơn cứu độ cho loài người. Xin cho chúng con vững tin nơi tình thương của Chúa, và quyết tâm sông mến Chúa yêu người để nên con thảo của Chúa và góp phần cứu rối anh em.- AMEN.

 

LM ĐAN VINH -HHTM

 


**********************************

 

ĐỐI THOẠI VỀ NHỮNG VẤN ĐỀ KHOA HỌC VÀ ĐỨC TIN

 

III.VỀ VẤN ĐỀ GIÁO LÝ VÀ NHÂN ĐỨC CỦA TÔN GIÁO

VẤN ĐỀ 19:

 

Tôn giáo chủ trương những giáo thuyết phản tiến bộ, đi ngược  lại quyền lợi của lớp người nghèo khổ. Tôn giáo giảng dạy sự hèn nhát, sự tự khinh, sự ti tiện, sụ sỉ nhục, sự phục tòng… là những tính nết của loài vật (Mega I,6 trang 278).

 

GIẢI ĐÁP:

 

A. TRÌNH BÀY:

 

 Đây chẳng qua chỉ là những bài bác mang tính chủ quan, thiên kiến và sai lầm:

 

1) Ki-tô giáo không những không phản tiến bộ, mà còn chiếu ánh sáng văn minh cho nhân loại:

 

Thực vậy, lịch sử các nước văn minh giàu mạnh ngày nay đã cho thấy: hầu như bất cứ ở đâu, khi người ta mở lòng đón nhận đức tin Ki-tô giáo, thì ở đó ánh sáng văn minh cũng ngự trị thay thế cho tình trạng tối tăm lạc hậu kém văn minh. Nhờ Thánh Kinh và giáo lý mới đem lại sự tiến bộ cho nhân loại về các lãnh vực như khoa học, văn hóa, luân lý như sau:

 

- Tiến bộ về khoa học: những phát minh khoa học, kỹ thuật tân tiến hiện đại hầu hết đều do các nhà bác học là tín đồ Ki-tô giáo cống hiến cho nhân loại. Trong số các khoa học gia thế kỷ 19, có tới 92% có đức tin vào Thiên Chúa là Đấng tạo thành vũ trụ vạn vật. Cũng nhờ ánh sáng đức tin soi dẫn, các vị này đã say mê tìm hiểu những kỳ công của Tạo Hóa và đã khám phá ra những định luật chi phối vũ trụ thiên nhiên, những máy móc phục vụ hạnh phúc con người theo lệnh truyền của Thiên Chúa sáng tạo như sách Sáng Thế đã ghi lại như sau: “Thiên Chúa ban phúc lành cho họ và Thiên Chúa phán với họ: “Hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều cho đầy mặt đất, và thống trị mặt đất. Hãy làm bá chủ cá biển, chim trời và mọi giống vật bò trên mặt đất” (St 1,28).

 

- Tiến bộ về văn hóa: Mỗi khi Tin Mừng loan truyền đến đâu, thì cũng tác động về phong hóa đến đó. Những hủ tục lạc hậu của các dân tộc bán khai như: Tảo hôn, giết người tế thần… đã dần dần bị đào thải khi họ được tiếp xúc với các nhà thừa sai truyền giáo và được học hỏi giáo lý đức tin. Nền văn minh Ki-tô giáo cũng đã cống hiến cho kho tàng nghệ thuật của nhân loại những tác phẩm sáng giá nhất về mọi phương diện: hội họa, điêu khắc, kiến trúc, văn chương, thi phú, âm nhạc… và rất nhiều tác phẩm nghệ thuật thánh của tôn giáo hiện nay vẫn đang được lưu giữ trưng bày tại hầu hết các viện bảo tàng nổi tiêng nhất thế giới như: Vatican, Louvre, Metropolitan, Prado, Smithsonitan…

 

- Tiến bộ về luân lý: Giáo lý tình thương của Ki-tô giáo đề cao công bằng vị tha bác ái đã ảnh hưởng rất nhiều đến cách ứng xử giữa người với người, đến các chủ nghĩa tốt đẹp trên thế giới, đến các luật pháp quốc gia và các hiến chương tuyên ngôn quốc tế…

 

Như vậy, có thể nói: hầu như mọi lãnh vực của nền văn minh nhân loại đều bắt nguồn từ người tín hữu hoặc đều chịu ảnh hưởng sâu đậm của giáo thuyết Ki-tô giáo.

 

2) Giáo lý Ki-tô giáo không những không đi ngược lại quyền lợi của người nghèo, trái lại: chính giáo lý này đã mạnh mẽ bênh vực những người xấu số cách hữu hiệu nhất.

 

Thực vậy, Thánh Kinh Ki-tô giáo là một thông điệp của tình thương. Trong bản Hiến Chương Nước Trời do Đức Giê-su công bố, người nghèo khổ được quan tâm và ưu tiên nhận ơn cứu độ:

 

a) Thái độ của Đức Giê-su về vấn đề của cải và sự giàu nghèo:

 

- Trong Tám Mối Phúc, Đức Giê-su đề cao người nghèo: “Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ” (Mt 5,3). Tin Mừng Lu-ca đã ghi lại lời Đức Giê-su quyết liệt hơn: “Phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó, vì Nước Thiên Chúa là của anh em” (Lc 6,20), và “Khốn cho các ngươi là những kẻ giàu có, vì các ngươi đã được phần an ủi của mình rồi” (Lc 6,24).

 

- Đức Giê-su đã dạy môn đệ về thái độ phải có đối với của cải tiền bạc như sau: “Những người có của thì khó vào Nước Thiên Chúa biết bao!  Nghe Người nói thế, các môn đệ sững sờ. Nhưng Người lại tiếp: “Các con ơi, vào được Nước Thiên Chúa thật khó biết bao ! Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào Nước Thiên Chúa”. Các ông lại càng sửng sốt hơn nữa và nói với nhau: “Thế thì ai có thể được cứu ?” Đức Giê-su nhìn thẳng vào các ông và nói: “Đối với loài người thì không thể được, nhưng đối với Thiên Chúa thì không phải thế, vì đối với Thiên Chúa mọi sự đều có thể được” (Mc 10,23-27).

 

- Đức Ma-ri-a trong kinh Ngợi Khen cũng đã ca tụng tình thương cứu độ của Thiên Chúa dành cho người nghèo như sau: “Kẻ đói nghèo Chúa ban của đầy dư, người giàu có lại đuổi về tay trắng” (Lc 1,58).

 

- Thánh Gia-cô-bê cũng cho biết Chúa sẽ bù đắp những thiệt thòi mà người nghèo phảỉ chịu bằng việc ưu tiên ban đức tin và ơn cứu độ như sau: “Nào Thiên Chúa đã chẳng chọn những kẻ nghèo khó trước mặt người đời, để họ trở nên người giàu đức tin và thừa hưởng vương quốc Người đã hứa cho những ai yêu mến Người hay sao ?” (Gc 2,5).

 

b) Đức Giê-su cổ võ sự công chính và dạy các môn đệ phải tha thứ:

 

- Cần ăn ở công bình ở đời này, để tránh khỏi phải đền trả ở đời sau: “Thầy bảo thật cho anh biết: Anh sẽ không ra khỏi đó, trước khi trả hết đồng xu cuối cùng” (Mt 5,26).

 

- Cần chu toàn cả hai bổn phận với Thiên Chúa và tha nhân: “Thế thì của Xê-da trả về Xê-da; của Thiên Chúa trả về Thiên Chúa” (Mt 22,21).

 

- Cần biết quảng đại tha thứ: Trong kinh Lạy Cha, Đức Giê-su dạy môn đệ cầu xin Thiên Chúa tha tội với điều kiện họ phải sẵn sàng tha lỗi cho anh em: “Và tha nợ chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con”. Người cũng giải thích thêm: “Thật vậy, nếu anh em tha lỗi cho người ta, thì Cha anh em trên trời cũng sẽ tha thứ cho anh em. Nhưng nếu anh em không tha thứ cho người ta, thì Cha anh em cũng sẽ không tha lỗi cho anh em” (Mt 6,12).

 

c) Đức Giê-su bênh vực quyền lợi của người phụ nữ trong xã hội:

 

- Phụ nữ được Thiên Chúa dựng nên ngang hàng với nam giới khác với lập trường cho rằng phụ nữ thấp hơn nam giới và phải lệ thuộc vào nam giới: Đức Giê-su nói: “Các ông không đọc thấy điều này sao?: Thuở ban đầu, Đấng Tạo Hóa đã làm ra con người có nam có nữ, và người đã phán: “Vì thế, người ta sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt”. Như vậy, họ không còn là hai, nhưng chỉ là một xương một thịt. Vậy sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly”(Mt 19,4-6).

 

- Người cũng rút lại luật cho phép ly hôn trong thời Cựu Ước: Khi ấy, những người biệt phái đến gần vá hỏi thử Chúa Giê-su rằng: Người ta có được phép ly dị vợ mình chăng?” Người đáp: Mô-se đã truyền cho các ông thế nào? Họ thưa: “Mô-sê cho phép làm giấy ly dị và cho ly dị”. Bấy giờ Chúa Giê-su đáp lai: “Chính vì sự cứng lòng của các ông, mà Mô-sê đã viết ra điều luật đó. Nhưng lúc khởi đầu cuộc sáng tạo, Thiên Chúa đã dựng nên một người nam và một người nữ. Vậy sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly(Mc 10,2-9).

d) Đức Giê-su chống lại những bất công xã hội và đề cao sự khiêm nhường phục vụ cùng sự quảng đại chía sẻ cơm áo cho người nghèo:

 

- Người nói với các người Pha-ri-sêu tranh giành chỗ ngồi phải biết khiêm tốn khi được mời tham dự liên hoan: “Vì phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên” (Lc 14,11).

 

- Người cũng yêu thương chàng thanh niên giàu có muốn nên trọn lành và dạy anh ta sự quảng đại chia sẻ: "Anh chỉ thiếu có một điều là hãy đi bán những gì anh có mà cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời. Rồi hãy đến theo tôi” (Mc 10,21).

 

e) Đức Giê-su khuyên dạy môn đệ phải có lòng bác ái, thương yêu những người nghèo khổ, khuyết tật, bất hạnh và bị bỏ rơi, vì ý thức rằng phục vụ họ là phục vụ chính Chúa. Sau đây là một số lời Đức Giê-su dạy đức yêu người:

 

- Yêu người như yêu mình: “Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình” (Mt 22,39).

 

- Yêu thương lẫn nhau là dấu hiệu môn đệ thực sự của Chúa: “Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau. Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 13,34).

 

- Yêu người nghèo khổ vị họ là hiện thân của Chúa: Đến ngày tận thế, Chúa Giê-su sẽ tái lâm trong vai trò Vua Thẩm Phán đến phán xét chung mọi người về như sau: Bấy giờ Đức Vua sẽ bảo họ rằng: “Ta bảo thật các ngươi: Mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy” (Mt 25,40).

 

3) Những điều tôn giáo đề cao như: Khiêm tốn phục vụ tha nhân; Làm chủ các dục vọng xấu và các thói hư; Lấy đức báo oán: đối xử khoan dung nhân hậu với những kẻ thù ghét làm hại mình, để biến thù thành bạn; Can đảm chịu đựng những đau khổ gặp phải trong cuộc sông; Vâng phục quyền bính hợp pháp trong đạo ngoài đời… Tất cả những điều này đêu không phải là những điều tiêu cực, là những tính nết của loài vật… như có người đả kích. Trái lại, đây còn là những nhân đức anh hùng mà những kẻ tầm thường không thể thực hiện được, nhưng chỉ những ai có đức tin mạnh mẽ can đảm, vững tâm bền chí, thánh thiện nhân ái… mới có thể làm được mà thôi

.

Còn những người tự cao tự đại, thiếu sự kiên nhẫn chịu đựng, dễ bất mãn nổi loạn do lòng tham lam bất chính thôi thúc… Đó mới thực là những lý thuyết phản tiến bộ, đi ngược  lại quyền lợi của lớp người nghèo khổ, và mới cần được kiềm chế loại trừ.

 

TÓM LẠI: Ki-tô giáo không những không phản tiến bộ, trái lại đã đem ánh sáng văn minh đến cho nhân loại về mọi phương diện: khoa học,văn hóa, luân lý… Giáo lý Ki-tô giáo dạy không những không đi ngược lại quyền lợi của người nghèo, mà trái lại còn bênh vực lớp người xấu số bất hạnh một cách mạnh mẽ và hữu hiệu nhất. Những điều tôn giáo đề cao như: sự khiêm tốn phục vụ, hãm dẹp các dục vọng thói hư, lấy thiện báo ác, nhẫn nhịn chịu đựng các khó khăn gặp phải, vâng phục quyền bính đạo đời... Tất cả đều đươc mọi người công nhận là tốt và cần được thực hiện. Như vậy, những lời chỉ trích tôn giáo nói trên đều sai lầm, chủ quan và đầy thiên kiến… nên các tín hữu chúng ta không cần phải quan tâm.

 

 

B. PHÚT HỒI TÂM:

 

1) LỜI CHÚA: “Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau. Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. Ở điểm này, mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy: Là anh em có lòng yêu thương nhau” (Ga 13,34-35).

 

2) LỜI CẦU:

 

Lạy Chúa Giê-su. Xin cho mỗi tín hữu chúng con biết giới thiệu khuôn mặt khiêm tốn hiền hòa của Chúa cho tha nhân chua nhận biết Chúa. Xin cho chúng con biết sông yêu thương phục vụ Chúa trong mọi người như lời Chúa dạy, được thánh Phan-xi-cô tóm lại trong kinh Hòa Bình, để chúng con tích cực làm chứng cho Chúa và xứng đáng trở thành môn đệ thức sự của Chúa như lời Chúa dạy hôm nay: “Ở điểm này, mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy: Là anh em có lòng yêu thương nhau” (Ga 13,35).

 

LM ĐAN VINH - HHTM

 

 

*********************

 

ĐỐI THOẠI VỀ NHỮNG VẤN ĐỀ KHOA HỌC VÀ ĐỨC TIN

 

IV.TÔN GIÁO VÀ CÁC CHẾ ĐỘ CHÍNH TRỊ

 

VẤN ĐỀ 20:

 

Tôn giáo chính là công cụ của bọn phong kiến tư bản dùng để củng cố chế độ và yên tâm bóc lột dân nghèo. Muốn tiêu diệt chế độ, trước hết phải tiêu diệt tôn giáo

 

GIẢI ĐÁP:

A. TRÌNH BÀY:

 

1) Quan hệ giữa tôn giáo và các chế độ chính tri:

 

Trong các xã hôi phong kiến và tư bản, tôn giáo thường được tôn trọng và tự do phát triển. Đây cũng là điều hợp lý: Các tôn giáo nói chung và Ki-tô giáo nói riêng đều nhằm mục đích giúp con người hướng thiện. Tôn giáo nào cũng dạy tín đồ phải noi gương Đấng giáo chủ để ăn ngay ở lành, cũng dạy tín đồ làm điều tốt và tránh điều xấu, dạy mọi người thực thi công bình bác ái, sông hòa hợp với tha nhân, vâng phục quyền bính hợp pháp, cùng hợp tác xây dựng một xã hội ấm no hạnh phúc ngay từ trần gian để sẽ được hưởng hạnh phúc thiên đàng mai sau… Đó là những điều thiện hảo mà tôn giáo mang lại cho nhân loại, nên thường bất cứ chế độ chính trị nào nếu muốn tồn tại và bền vững, cũng đều công nhận tôn giáo và tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của công dân ghi trong hiến pháp và luật pháp. Vì đây là quyền căn bản của con người hay nhân quyền: Mọi người đều có quyền tin hoặc không tin theo một tôn giáo.

 

2) Về sứ vụ Thiên Sai của Đức Giê-su:

 

Ít-ra-en là một dân tộc nhược tiểu nên thường bị các nước lớn xâm lược đô hộ hoặc bị bắt đi lưu đày, nên họ luôn ước mong về một Đấng Thiên Sai sẽ đến để giải thoát họ khỏi ách thống trị của ngoại bang và biến dân Do thái thành một dân tộc hùng cường giống như trong triều đại của Vua Đa-vít và Sa-lô-mon.

 

Qua các ngôn sứ, Thiên Chúa hứa ban một Đấng Cứu Thế dòng dõi Đavít, được sinh ra tại Bê-lem do một trinh nữ (x. Mt 1,20-23). Người được trao sứ vụ cứu nhân loại bằng sự hi sinh mạng sống, tình nguyện chết trên cây thập giá để đền tội thay và sống lại để phục hồi sự sống cho loài người (x. Mt 1,21).

 

Khi ra giảng đạo, Đức Giê-su đã được xức dầu thiêng liêng để tấn phong làm Đấng Thiên Sai (x. Mt 3,16). Rồi Người đã công bố tại hội đường Na-da-rét chương trình cứu thế của Người theo lời tuyên sấm của I-sai-a về sứ vụ của Đấng Thiên Sai như sau: Thánh Thần Chúa ngự trên tôi, vì Chúa xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan Tin Mừng cho người nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho những người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Chúa" (Lc 4,18-19).

 

Tuy nhiên các đầu mục là các tư tế Đền Thờ, Kinh sư và Biệt phái đã không công nhận Đức Giê-su là Đấng Thiên Sai. Lý do vì nội dung lời dạy của Người mang tính hiếu hòa như: Hãy lấy ơn báo oán, tha thứ luôn luôn (x. Mt 18,22), nhẫn nhịn chịu đựng tha nhân, yêu thương cả kẻ thù của mình …(x. Mt 5,38-48) là những điều họ không thể chấp nhận. Đức Giê-su cũng nhiều lần vi phạm luật nghỉ việc ngày hưu lễ Sa-bát của Mô-sê (x. Mt 12,1-8), Người đả kích lối sống đạo đức giả dối bề ngoài của các luật sĩ biệt phái (x. Mt 23,13-36). Nhất là Người tự cho mình là Đấng Cứu Thế và là Con Thiên Chúa, ngang hàng với Thiên Chúa, điều mà các đầu mục Do Thái cho là phạm thượng ! (x. Mt 26,63-66). Nên cuối cùng các đầu mục Do thái đã liên kết với chính quyền Do thái bắt bớ, kết án tử hình cho Người, và còn áp lực đòi Tổng Trấn Phi-la-tô của đế quốc Rô-ma xử tử Người trên cây thập tự (x. Mt 27,20-26). Nhưng sau khi bị giết chết, đến ngày thứ ba Người đã từ cõi chết sống lại (x. Mt 28,5-8) và đã đổ ơn Thánh Thần xuống trên Hội Thánh (x. Cv 2,1-13), làm cho đạo Công giáo lan truyền đi khắp nơi bắt đầu từ thủ đô Giê-ru-sa-lem, khắp các miền Giu-đê, Sa-ma-ri và cho đến tận cùng trái đất (x. Cv 1,8).

 

Đức Giê-su thực sự là Vua Thiên Sai, nhưng không như dân Do thái trông mong. Người là Vua hòa bình ngồi trên lừa khải hoàn vào thành Giê-ru-sa-lem (x Lc 19,35-40). Người thiết lập một Nước Trời, nhưng Nươc Người không thuộc về thế gian này. Những ai thuộc về chân lý thì nghe tieng của Người (x. Ga 18,33-36). Người chính là Vua Mục Tử yêu thương đoàn chiên và sẵn sàng thí mạng mình vì đoàn chiên (Ga 10,11). Người mời gọi những ai muôn theo Người phải khiêm hạ rửa chân cho nhau, bỏ mình vác thập giá mình mà theo Người (x. Lc 9,23-24).

 

3) Về việc lợi dụng tôn giáo:

 

Đọc lịch sử thế giới, dường như trong quá khứ, tại một số nước Âu châu như Nga, Đức, Pháp, Ý, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha… tôn giáo đặc biệt đạo công giáo xem ra đã từng được đề cao và có lúc đã trở thành chỗ dựa vững chắc của chính quyên phong kiến: Các nhà lãnh đạo cao cấp trong tôn giáo như hồng y, giám mục… rất được trọng vọng và có một vị trí cao trong triều đình… Do đó khi chế độ phong kiến suy đồi do tham nhũng thối nát, dân chúng dù có bất mãn, vẫn không dám mạnh dạn đứng lên làm cách mạng lật đổ. Vì thế trong cuộc cách mạng vô sản, K. Marx cho rằng tôn giáo chính là công cụ của bọn phong kiến tư bản dùng để củng cố chế độ và yên tâm bóc lột dân nghèo. Muốn tiêu diệt chế độ, trước hết phải tiêu diệt tôn giáo.

 

 

Tuy nhiên, cho dù thực sự có bị vua quan lợi dụng đi nữa, tôn giáo cũng không vì thế mà trở nên xấu và cần phải loại trừ. Cũng giống như người ta không thể nại vào lý do: vì lưỡi dao sắc bén đã từng làm đứt tay người sử dụng, nên phải loại bỏ dao sắc; Hay do xe hơi tốc độ quá nhanh đã gây nhiều tai nạn nghiêm trọng làm chết nhiều người, nên cần phải cấm dùng xe hơi… Cũng vậy, tôn giáo có giá trị giúp con người nên tốt trong mọi thời đại và dưới bất kỳ chế độ chính trị nào. Sở dĩ trong quá khứ, đôi khi tôn giáo đã bị lợi dụng, là do đã có sự lẫn lộn giữa thế quyền và giáo quyền.

 

Ngày nay, để khỏi đi vào vết xe cũ và không trở thành công cụ phục vụ thế quyền, tôn giáo cần phải tách biệt khỏi các chế độ chính trị. Giáo Hội Công Giáo tuy luôn khuyến khích giáo dân chu toàn nghĩa vụ công dân và tham gia các hoạt động đảng phái chính trị để phục vụ đất nước và đấu tranh bảo vệ quyền lợi người nghèo, bảo vệ các quyền tự do công dân, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng… Nhưng giáo luật lại cấm các giáo sĩ tham gia nắm giữ các chức vụ trong bộ máy chính quyên. Nhờ tách biệt khỏi các chế độ chính trị mà Giáo Hội có thể mạnh dạn lên tiếng bảo vệ công lý và bênh vực quyền lợi chính đáng của người nghèo như lời Chúa dạy.

 

TÓM LẠI: Cho dù trong quá khứ, tại một số nước phong kiến, tôn giáo có thể đã bị lợi dụng để bảo vệ chế độ. Nhưng tôn giáo chân chính không bao giờ đồng hóa với cường quyền bạo lực, với nếp sống xa hoa ích kỷ, với chính sách bóc lột bất công của bất cứ chế độ chính trị nào. Ngày nay, ai cũng nhìn nhận: muốn thi hành đúng vai trò của mình, tôn giáo cần phải tách biệt khỏi thế quyền, để không bị đồng hóa với thế quyền, dễ dàng nói lên tiếng nói trung thực của lẽ phải, bênh vực quyền lợi của đại đa số dân nghèo theo thánh ý Thiên Chúa.

 

B. PHÚT HỒI TÂM:

 

1) LỜI CHÚA: Khi ấy Đức Giê-su mở sách ngôn sứ I-sai-a, gặp đoạn chép rằng: “Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Chúa”. (Lc 4,18-22).

 

2) LỜI CẦU:

 

Lạy Chúa Giê-su. Hôm nay mỗi tín hữu chúng con quyết tâm tiếp nối công việc cứu thế của Chúa bằng sự chia sẻ niềm vui và ánh sáng, nâng đỡ những người đau khổ cả về thể xác cũng như tinh thần, loại trừ các nỗi sợ hãi, giải thoát những người đang bị áp bức, xoa dịu các đau khổ, an ủi những kẻ cô đơn, biểu lộ Chúa qua những công việc bác ái của mình. Xin cho chúng con biết thực thi sứ vụ người môn đệ của Chúa, tích cực góp phần để làm cho lời tuyên sấm của ngôn sứ I-sai-a về triều đại Thiên Sai sớm được ứng nghiệm, để công bố một năm hồng ân và làm cho Nước Chúa hiện diện giữa lòng xã hội hôm nay.- AMEN.

 

LM ĐAN VINH