02 Chương 2
CHƯƠNG II:
TÂN PHÚC ÂM HÓA
ĐỜI SỐNG CỘNG ĐOÀN
I. CÁC MỐI TƯƠNG QUAN
VÀ CÁC HIỆN TƯỢNG CỘNG ĐOÀN
1. Các mối tương quan.
Cộng đoàn phải xây dựng một mối tương quan đồng cảm với các thành viên. Thương hại là khinh bỉ những người đang gặp khó khăn; đồng cảm không chỉ là nhìn đến những người đang gặp khó khăn thôi, mà còn nhìn đến cả những người gây rắc rối nữa. Đồng cảm tự nó là một tiến trình chữa lành (Mt 11,28). Tình yêu thương huynh đệ lớn mạnh nhờ biết quan tâm tới tha nhân, nhờ việc truyền thông đích thật, nhờ tôn trọng sự độc lập của người khác và biết diễn tả tình yêu sâu sắc ta dành cho họ.
Các mối tương quan rất quan trọng trong việc đào tạo con người. Đâu là kế hoạch của Thiên Chúa đối với các mối tương quan? Thiên Chúa tạo dựng con người và ban cho họ quyền thống trị trên các thọ tạo khác (St 1, 27-28). Cuộc sống chúng ta tùy thuộc rất nhiều vào sự đón nhận, săn sóc, và các môi tương quan âm cúng. Những kết quả nghiên cứu cho thấy rằng một trẻ em nào đó có thể trở nên dị dạng, méo mó và thậm chí chết nữa, nếu người ta cắt đứt mọi tương quan với nó. Thiên Chúa tạo nên con người để họ được yêu thương và tạo nên các sự vật cho con người sử dụng; nhưng ta thường làm đảo lộn trật tự ấy.
Khi trẻ em không được yêu thương, có thể chúng sẽ bắt đầu ăn cắp. Khi những người lớn cảm thấy mình không được yêu thương, họ sẽ đi mua sắm các vật đắt tiền, và dìm mình vào trong các việc hời hợt bên ngoài. Họ cảm thấy thoải mái khi được trả giá cao. Khi hình ảnh về chính mình bị các mối tương quan phá vỡ, họ sẽ tìm cách bù trừ bằng việc mua sắm các thứ đắt tiền. Đây chỉ là những thứ thay thế. Điều gì sẽ xảy ra khi ta yêu các sự vật không thể đáp trả lại tình yêu của ta? Ta sẽ bực bội. Mỗi khi ta yêu một vật không tương xứng nào đó, ta sẽ bực bội. Chỉ khi yêu người, ta mới có được một cuộc gặp gỡ giữa người với người, một sự cho và nhận.
Điều răn thứ nhất của Thiên Chúa là “Hãy yêu mến Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết sức, hết linh hồn, hết trí khôn ngươi” (Đnl 6,4; Mc 12,30), và điều răn thứ hại là “Hãy yêu thương đồng loại như chính mình ngươi” (Lc 19,18; Mc 12,31). Ta thường yêu các sự vật hơn con người. Vì thế, nhiều người sợ không dám yêu, vì họ sợ bị loại bỏ. Ta cố thay thế sự loại bỏ này bằng các sự vật bởi các sự vật ấy không làm khổ ta; cũng không đòi hỏi nhiều như yêu chó, yêu cây cối, xe cộ, tivi cách quá đáng.
Trong xã hội hiện nay khuynh hướng muốn sử dụng con người đang rất mạnh. Đức Kitô coi trọng con người và các mối tương quan của họ. Theo não trạng hiện đại, thì con người ít quan trọng hơn công việc họ làm. Thời gian và các cơ chế quan trọng hơn con người. Nhưng ta phải yêu thương những người trong cộng đoàn của ta. Họ chỉ phẫn nộ khi bị lạm dụng, bị đả thương. Khi ta sử dụng con người, ta đang nuôi dưỡng một tiến trình tha hóa, một sự hủy diệt và chia cắt. Khi ta tìm kiếm yêu thương, ta sẽ làm cho tiến trình ấy nhẹ bớt đi, vi khi ấy ta sử dụng những người đang yêu thương ta. Khi ta thường xuyên sử dụng họ, chắc chắn họ sẽ tìm cách xa lánh ta. Mối tương quan đích thật chỉ được xây dựng trên tình yêu và sự tin tưởng đích thật.
Cộng đoàn phải bao gồm sự truyền thông và các mối tương quan. Ta cần phải có một tương quan yêu thương với chính minh, với Thiên Chúa và với tha nhân. Khi ta bị tước mất mối tương quan ấy, đau khổ chắc chắn sẽ tràn vào trong đời ta.[1]
2. Các hiện tượng cộng đoàn: 12 loại.
Charles Serrao đã khai triển 12 típ tương quan trong việc sống cộng đoàn. Sự phân chia này chỉ là một cố gắng làm sáng tỏ hơn vấn đề này thôi. Có lẽ ta không tìm được những phân biệt rõ ràng như thế trong cộng đoàn. Nhưng ta cũng có thể tìm được hai hoặc hơn hai trong số các típ tương quan này trong một cộng đoàn nào đó.
2.1. Mối tương quan đối lập - hai nhóm trong một cộng đoàn chống đối nhau. Đây là dấu chỉ của sự thiếu trưởng thành nơi các thành viên. Trong hoàn cảnh này, một số các cá nhân yếu hơn có thể dễ dàng bị lôi kéo vào một trong hai phe ấy. Trong trường hợp ấy, lợi ích của các nhóm thường không hòa hợp với lợi ích của cộng đoàn. Chỉ những người trưởng thành mới làm nên cộng đoàn được thôi.
2.2. Mối tương quan đối nghịch - ở đây, tương quan giữa các thành viên luôn luôn được trang bị bằng những cuộc tấn công mỉa mai, không có tình yêu. Không ai muốn học điều gì nơi người khác cả. Mọi người đều chống lại nhau. Cộng đoàn trở thành nơi đầy căng thẳng và xung đột.
2.3. Mối tương quan gây chiến - người ta tập trung chú ý vào quyền lợi đang bị tranh chấp, họ không có khuynh hướng chiến thắng mà là loại trừ. Mối tương quan này có tính phá hủy ngay trong bản chất của nó.
2.4. Mối tương quan băng nhóm - có nhiều kênh truyền thông khác nhau nhưng không có cái gì chung cả. Mọi sự đều là vì “bạn tôi”, vì “nhóm của tôi", và “dự án của chúng tôi”. Đó là một khẩu hiệu không có tính gia đình chút nào và rất nên tránh.
2.5. Mối tương quan độc quyền - một thành viên nào đó của cộng đoàn có thể độc quyền trên người này hoặc người khác của cộng đoàn nhờ thái độ cha chú (họ là “các vị chúa biết hết mọi sự của tôi” và muốn bảo vệ tôi), hoặc nhờ thái độ biến người khác thành dụng cụ (sử dụng người khác cho những lợi ích của riêng mình).
2.6. Mối tương quan cô lập và thiếu tính xã hội - trong loại cộng đoàn này chỉ có im lặng và lạnh lùng thôi. Mỗi người chỉ biết tập trung vào mình, vào những vấn đề của mình, sợ cởi mở với nhóm của minh; các thành viên thường trải qua kinh nghiệm của việc bị hất ra bên lề.
2.7. Mối tương quan lạnh lùng - chỉ biết chú ý đến một vấn đề nào đó chứ không biết để ý đến con người. Trong mối tương quan này không còn những tình cảm sâu đậm với nhau nữa mà chỉ còn liên lạc hỏi tại sao trả lời vậy thôi. Con người bị bỏ quên, và luôn luôn có những nghi kỵ và sợ hãi.
2.8. Mối tương quan lãnh đạm - ở đây, các thành viên trong cộng đoàn không hợp tác và không sống cho nhau. Họ vẫn có thể vâng nghe sự chỉ dẫn của các vị lãnh đạo nhưng lại hoàn toàn lạnh lùng với linh hoạt viên của cộng đoàn.
2.9. Mối tương quan ổn định giả tạo - một hay nhiều thành viên của cộng đoàn chỉ biết bám vào ý tưởng của riêng mình; họ trở nên thiếu khoan dung, cứng nhắc và chỉ thích chỉ trích thôi. Khi liên hệ với nhau, họ thường trả lời đúng, nhưng bao giờ cũng nói lời hai nghĩa.
2.10. Mối tương quan hình tròn - mối tương quan này tùy thuộc vai trò của mọi người trong cộng đoàn. Mối tương quan này xoay quanh các nhiệm vụ và các chức vụ trong cộng đoàn chứ không xoay quanh con người. Cộng đoàn này có thể rất hời hợt và thụ động về bản chất, tuy bề ngoài họ có thể dựng nên những khuôn mặt thật tốt.
2.11. Mối tương quan giữa hai người - đây là mối tương quan giữa “you-you”, nghĩa là mối tương quan giữa hai người. Hai người gắn bó với nhau trong cộng đoàn. Đó là một nhóm nhỏ trong một nhóm lớn. Khi gặp những trường hợp này, ta có thể kết luận rằng cộng đoàn đang mất dần tác dụng.
2.12. Mối tương quan của sự truyền thông và tương tác lý tưởng - các thành viên đạt được một thái độ trưởng thành và một tính cách hoàn chỉnh nhờ gia đình và nhờ nền đào tạo tu trì. Sự tương tác của họ thì tự do và không hề có sợ hãi hoặc tự vệ.[2]
II. MỘT SỐ Ý NIỆM
VỀ ĐỜI SỐNG CỘNG ĐOÀN
1. Một ý niệm về cộng đoàn
Tiếp xúc với nhiều anh chị em thuộc các cộng đoàn, tôi nhận thấy có khá nhiều người không hiểu gì về đời sống cộng đoàn. Nhiều người nghĩ rằng thiết lập một cộng đoàn đơn thuần chỉ là việc qui tụ một số người lại với nhau dưới một mái nhà, và cùng cam kết sống theo một lý tưởng. Kết quả đem lại có thể là bất hạnh. Đời sống cộng đoàn được hình thành không đơn giản chỉ do tính tự phát hoặc qui định của lề luật. Một số điều kiện rõ ràng phải được đáp ứng thì cộng đoàn mới có thể được đào sâu và phát triển trải qua những khủng hoảng, những căng thẳng và những giai đoạn tốt đẹp. Nếu những điều kiện không được bảo đảm thi sự trệch hướng có thể xảy ra.
Cuối cùng, cộng đoàn có thể sẽ tan vỡ hoặc chết về mặt tinh thần, và lúc đó những thành viên của cộng đoàn sẽ trở thành nô lệ.
Tài liệu này cố gắng làm rõ những điều kiện cần thiết để sống trong một cộng đoàn. Đây không phải là một luận án hay một giáo trình nhưng là một chuỗi những điểm khởi đầu để suy tư. Jean Vanier đã khám phá ra chúng không phải từ sách vở, nhưng qua cuộc sống thường ngày, qua những thiếu sót, những chướng ngại, những thất bại của bản thân, qua ơn Thiên Chúa soi sáng và trợ giúp của anh chị em trong cộng đoàn, qua những thời khắc hiệp nhất, căng thẳng và khổ đau. Đời sống cộng đoàn là một sự mạo hiểm phi thường. Jean Vanier hy vọng sẽ có nhiều người dám mạo hiểm, để cuối cùng đạt tới sự tự do nội tâm - tự do để yêu và được yêu.
“Như Chúa Cha đã yêu mến Thầy thế nào, Thầy cũng yêu mến anh em như vậy. Anh em hãy ở lại trong tình yêu của Thầy” (Ga 15,9)
“Đây là điều răn của Thầy: anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. Không có tình yêu nào cao cả hơn tình yêu của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15, 12-13).[3]
2. Cái hay cái dở của cộng đoàn.
Ngày nay, khi các thành phố phát triển, nhiều người tìm đến với cộng đoàn, đặc biệt khi họ cảm thấy cô đơn, mệt mỏi, yếu đuối và bất hạnh. Một số người nhận ra rằng không thể nào sống một mình; đối với họ, điều này giống như là phải nếm trước cái chết. Vì thế cộng đoàn có thể được xem là nơi đón nhận và chia sẻ một cách tuyệt diệu.
Nhưng mặt khác, cộng đoàn cũng có thể là một nơi khủng khiếp. Đó là một nơi mà những giới hạn và tích ích kỷ của chúng ta được thể hiện. Khi chúng ta bắt đầu sống trọn vẹn với người khác, chúng ta khám phá ra sự nghèo nàn, yếu đuối và bất tài của mình khi xử sự với người chung quanh. Chúng ta gặp những trở ngại về mặt tình cảm và tinh thần, những lo âu về giới tính, những ham muốn dường như vô độ, những thất vọng và ghen tị, kể cả những ước muốn phá đổ cộng đoàn. Khi sống một mình, chúng ta tin là mình có thể yêu được mọi người. Nhưng khi sống với người khác, chúng ta mới nhận ra rằng việc yêu người không dễ chút nào, và thậm chí chúng ta còn muốn phủ nhận đời sống cộng đoàn chừng nào hay chừng ấy. Nếu chúng ta không thể yêu người khác được, điều gì sẽ còn lại? Sẽ chẳng còn gì ngoài sự tăm tối, thất vọng và nỗi thống khổ. Tình yêu dường như là một ảo tưởng. Chúng ta dường như bị kết án phải sống cô độc và chết.
Như vậy, đời sống cộng đoàn cho chúng ta một kinh nghiệm đau thương về những giới hạn, yếu đuối và sự tăm tối. Chúng ta bất ngờ khám phá ra những con quái vật ở ngay trong bản thân. Nó thật khó để được ta khó chấp nhận. Phản ứng ngay tức khắc của ta là cố gắng hủy diệt những con quái vật ấy; hay cố giấu nó đi, xem như chúng không tồn tại; hoặc chạy trốn khỏi đời sống cộng đoàn và những mối tương quan; hoặc chỉ nhận ra những con quái vật ấy nơi người khác hơn là ở chính bản thân mình. Nhưng nếu chúng ta chấp nhận rằng có những con quái vật thì chúng ta có thể để chúng đó và học cách thuần hóa chúng. Đó là sự phát triển để đạt tới tự do.
Nếu cộng đoàn có thể chấp nhận chúng ta với tất cả những khả năng và giới hạn, thì cộng đoàn dần dần trở nên một nơi đầy tự do. Một khi cảm nhận thấy mình được người khác chấp nhận và yêu thương chính mình. Có như vậy, cộng đoàn mới trở thành nơi chúng ta có thể sống mà không cảm thấy sợ hãi hay bị ép buộc. Đời sống cộng đoàn sẽ trở nên sâu sắc và thắm thiết hơn qua sự tin tưởng lẫn nhau giữa tất cả các thành viên.
Như vậy, nơi khủng khiếp này có thể trở thành một nơi để sống và phát triển. Không gì tốt đẹp hơn một cộng đoàn trong đó con người thực sự bắt đầu yêu thương và tin tưởng lẫn nhau.
Ngọt ngào tốt đẹp lắm thay
Anh em được sống vui vầy bên nhau.
Như dầu quí đổ trên đầu
Xuống râu xuống cổ áo chầu A-ron (Tv 132).[4]
3. Hai mối nguy hiểm lớn của cộng đoàn
là “những người bạn” và “những kẻ thù”.
3.1. Những người bạn:
Người ta rất dễ kết thân với những người giống mình; chúng ta thích sống chung với những người luôn biết làm hài lòng chúng ta, họ cùng chung với chúng ta một lý tưởng, cách đánh giá cuộc sống và thích khôi hài. Chúng ta hỗ trợ lẫn nhau, tâng bốc xu nịnh lẫn nhau: “Các bạn rất tuyệt vời” - “Bạn cũng vậy” - “Chúng ta tuyệt vời bởi vì chúng ta thông minh và khôn khéo”. Tình bằng hữu có thể nhanh chóng trở thành một câu lạc bộ của những người tầm thường, thích xua nịnh và tán thưởng lẫn nhau. Tình bằng hữu không còn khích lệ nhau để tiến xa hơn hay phục vụ anh chị em, trung thành hơn với những đặc sủng đã nhận được, và quan tâm hơn tới Thánh Thần; chúng ta từ bỏ cuộc hành trình qua sa mạc tiến tới miền đất của sự tự do. Tình bạn trở nên ngột ngạt, là hàng rào chắn giữa chúng ta và những người khác. Tình bạn có thể trở thành một thứ dựa dẫm tình cảm, một hình thức của sự nô lệ.
3.2. Những kẻ thù:
Lại cũng có những thái độ ác cảm trong cộng đoàn. Có một số người, chúng ta không thể nào đồng ý được với họ. Họ luôn cản trở, bất đồng và đe dọa đến lợi ích và tự do của chúng ta. Sự hiện diện của họ dường như là mối đe dọa, công kích và chống đối chúng ta một cách hèn hạ. Chúng ta dường như không thể bộc lộ chính mình hay sống thoải mái khi phải ở chung với họ. Những người khác lại đưa đến cho chúng ta sự ghen tuông và đố kỵ. Chúng ta muốn thể hiện chính mình nhưng sự hiện diện của họ lại nhắc nhở cho chúng ta rằng chúng ta không là gì cả; hào quang và trí tuệ của họ làm bộc lộ sự nghèo nàn của chúng ta. Một số người khác nữa lại đòi hỏi quá nhiều. Chúng ta không thể đáp ứng thường xuyên những nhu cầu tình cảm và chúng ta phải đẩy họ ra xa. Họ là những “kẻ thù”. Họ là mối đe dọa - thậm chí chúng ta cũng không dám thừa nhận điều này - và chúng ta ghét họ. Chắc chắn sự ghét bỏ này thuộc bình diện tâm lý chứ chưa phải luân lý bởi vì chúng ta không chủ tâm. Nhưng ngay cả như vậy, chúng ta cũng mong muốn những người này không tồn tại! Nếu họ có thể biến mất hay chết đi, chúng ta mới cảm thấy tự do.[5]
4. Biết chấp nhận
những người bạn cũng như kẻ thù
Những trở ngại cũng như sự thu hút giữa những nhân cách khác biệt là điều tự nhiên. Chúng có thể hình thành do thiếu trưởng thành tình cảm hoặc do tổng thể những yếu tố của thời thơ ấu mà chúng ta không kiểm soát nổi. vấn đề không phải là chúng ta phủ nhận nó.
Nếu chúng ta để cho mình bị những phản ứng tình cảm chi phối, thì chẳng bao lâu những nhóm cục bộ sẽ nhanh chóng hình thành trong cộng đoàn. Cộng đoàn sẽ không còn nữa, nhưng là tập hợp những người tự khép chính mình và tách khỏi những người khác. Khi bước chân vào một vài cộng đoàn, bạn có thể nhanh chóng nhận ra những căng thẳng và đấu tranh ngấm ngầm đang diễn ra. Người ta không nhìn nhau diện đối diện nhưng đi ngang qua nhau trong những hành lang giống như những con tàu trong đêm. Một cộng đoàn thực sự chỉ có được khi đa số những thành viên ý thức và quyết định phá yỡ những rào cản này, cũng như thoát khỏi tình trạng bè phái, để bắt tay với kẻ thù.
Đây là một hành trình lâu dài. Cộng đoàn được xây dựng không chỉ trong một ngày. Thật ra, cộng đoàn không bao giờ có thể hoàn tất. Nó có thể đang hướng tới một tình yêu cao cả hơn hoặc là đang thoái lui dần.
Kẻ thù làm cho chúng ta sự hãi. Chúng ta không còn khả năng để lắng nghe tiếng kêu cứu và đáp ứng những nhu cầu của họ. Tính hung hăng hay sự thống trị của họ làm chúng ta ngột ngạt. Chúng ta chạy trốn khỏi họ - hay ước muốn họ hãy biến đi.
Thật ra, chúng ta phải luôn ý thức về những yếu đuối, sự thiếu trưởng thành và nghèo nàn nội tâm của mình. Có thể là chúng ta đã từ chối để đối diện với điều này. Chúng ta chỉ trích những lỗi lầm của người khác, nhưng thường thì những lỗi lầm ấy cũng là của chính mình mà chúng ta không dám thừa nhận. Những người hay phê bình người khác, chỉ trích cộng đoàn và tìm kiếm mẫu người lý tưởng, thường phủ nhận những thiếu sót và yếu đuối của mình. Họ không dám nhìn nhận những bất mãn ngấm ngầm và những vết thương của lòng họ. Sứ điệp của Đức Giêsu nói rất rõ:
“Nhưng Thầy nói điều này với anh em là những người đang lắng nghe Thầy đây: Hãy yêu kẻ thù và làm ơn cho những người ghét anh em, hãy chúc lành cho những người nguyền rủa anh em và cầu nguyện cho những người vu khống cho anh em. Ai vả anh má bên này thì hãy giơ cả má bên kia nữa. Ai đoạt áo ngoài của anh thì cũng đừng cản nó lấy áo trong" (Lc 6, 27-29). “Nếu các con yêu kẻ thương yêu mình thì có gì là ân với nghĩa? Ngay cả người tội lỗi cũng yêu thương kẻ yêu thương họ” (Lc 6,32).[6]
5. Phải phá đổ những rào cản
Những người bạn giả dối là những con người chúng ta chỉ nhìn thấy những phẩm chất tốt. Họ tỏ ra có phẩm chất sống động và gây cho ta cảm giác rằng họ tốt. Họ giúp chúng ta nhận ra chính mình, và chúng ta thấy họ như một tác nhân kích thích. Vì thế, chúng ta quý mến họ. Trái lại, kẻ thù chỉ đem đến những cảm xúc mà chúng ta không muốn nhìn nhận chúng: hung hăng, tị hiềm, sợ hãi, lệ thuộc giả tạo, và ganh ghét - đó là cả một thế giới tối tăm bên trong chúng ta.
Bao lâu chúng ta còn phủ nhận chúng ta là một sự hòa trộn giữa ánh sáng và bóng tối, giữa những phẩm chất tích cực và tiêu cực, giữa tình yêu và lòng thù ghét, giữa lòng vị tha và tính ích kỷ, giữa sự trưởng thành và sự ấu trĩ, thì bấy lâu chúng ta sẽ vẫn tiếp tục chia cắt thế giới thành kẻ thù - những người đối nghịch - và bè bạn - những người tốt. Chúng ta tiếp tục dựng lên những rào cản bên trong, chung quanh mình cùng với những thành kiến.
Một khi chúng ta có thể chấp nhận những yếu đuối và thiếu sót của bản thân, đồng thời nhìn nhận những khả năng để tiến tới sự tự do nội tâm và tình yêu đích thực hơn, thì chúng ta mới có thể chấp nhận được những yếu đuối và thiếu sót của những người khác, những người cũng đang tìm đến với tự do để yêu thương; chúng ta có thể đối diện với tất cả những người nam và người nữ bằng sự trung thực và lòng yêu mến. Tất cả chúng ta đều mỏng dòn và dễ chết. Nhưng chúng ta có niềm hy vọng, nhờ đó chúng ta có thể phát triển.[7]
6. Chấp nhận sự yếu đuối của mình
Bất kỳ một cộng đoàn nào cùng đều được hình thành bởi những con người có cả mặt tốt lẫn mặt xấu, nhưng dám chấp nhận và tha thứ cho nhau. Sự khiêm tốn và tin tưởng là nền tảng của đời sống cộng đoàn hơn là sự hoàn thiện và dâng hiến. Đó cũng không phải là một sự chấp nhận buông xuôi, vô vọng. Điều quan trọng ở đây là chúng ta dám chấp nhận sự thật, không ảo tưởng.
Một cách nào đó mọi người chúng ta phải lệ thuộc lẫn nhau. Tình yêu làm cho chúng ta yếu đuối và dễ bị tổn thương, bởi vì nó phá đổ những rào cản và áo giáp an toàn mà chúng ta đã bao bọc chung quanh mình. Yêu thương chính là để cho người khác đến với chúng ta và có lòng thương cảm để đến với họ. Chất keo nối kết sự hiệp nhất chính là sự phụ thuộc lẫn nhau.
Didier chia sẻ trong một cuộc họp cộng đoàn: “Cộng đoàn được xây dựng như một ngôi nhà, với tất cả những loại vật liệu khác nhau. Xi măng liên kết các viên gạch với nhau. Và xi măng thì được làm từ cát và vôi, là những thứ mỏng manh, chỉ cần một cơn gió thổi là chúng biến đi trong một đám mây bụi. Chất keo nối kết chúng ta trong cộng đoàn chính là phần yếu đuối nhất và nhỏ nhất của chúng ta ”12.[8]
7. Tin tưởng nhau.
Niềm tin tưởng nơi nhau được khai sinh mỗi ngày trong cộng đoàn nhờ việc chúng ta có thể tha thứ và chấp nhận những yếu đuối, nghèo nàn của nhau. Nhưng niềm tin này không dễ có ngay trong một lúc. Đó là lý do tại sao chúng ta phải cần thời gian để xây dựng một cộng đoàn thực sự. Khi gia nhập cộng đoàn, người ta luôn muốn thể hiện một hình ảnh nào đó về mình sao cho phù hợp với những gì người khác mong muốn. Dần dần, họ khám phá rằng những người khác yêu mến họ như họ là và tin tưởng nơi họ. Nhưng niềm tin tưởng này phải được trải nghiệm và phải lớn lên.
Những đôi uyên ương mới cưới có thể rất yêu thương nhau. Nhưng có lẽ tình yêu ban đầu ấy mới chỉ là một thứ tình cảm bên ngoài và cần phải được khám phá qua thời gian. Với những đôi vợ chồng đã sống với nhau nhiều năm, tình yêu của họ sẽ sâu đậm hơn; họ đã cùng nhau trải qua những thăng trầm của cuộc sống và biết rằng người bạn đời của mình sẽ trung thành cho đến chết. Họ tin là không ai có thể chia cắt được sự hiệp nhất của họ.
Tiến trình cũng sẽ diễn ra như thế trong các cộng đoàn của chúng ta. Chính qua những đau khổ và căng thẳng, những trải nghiệm và thử thách niềm tin mà chúng ta có thể lớn lên trong sự tin tưởng lẫn nhau. Trong một cộng đoàn, các thành viên có tin tưởng vào nhau, thì đó mới thực sự là một cộng đoàn vững bền. Vì thế, cộng đoàn không đơn thuần là một nhóm người cùng chung sống và yêu thương nhau, nhưng còn là dòng chảy của sự sống: một trái tim, một tâm hồn, một tinh thần. Cộng đoàn gồm những con người yêu thương nhau tha thiết và đang cùng nhau hướng tới một niềm hy vọng. Chính điều này mang đến một bầu khí đặc biệt của niềm vui và của sự đón nhận, là những yếu tố làm nên căn tính của một cộng đoàn đích thực.
“Nếu quả thật sự liên kết với Đức Kitô đem lại cho chúng ta một niềm an ủi, nếu tình bác ái khích lệ chúng ta, nếu chúng ta được hiệp thông trong Thần Khí, nếu chúng ta sống chân tình và biết cảm thương nhau, thì xin anh em hãy làm cho niềm vui của tôi được trọn vẹn, là hãy có cùng một cảm nghĩ, cùng một lòng mến, cùng một tâm hồn, cùng một ý hướng như nhau” (Pl 2, 1-2).
“Các tín hữu thời bấy giờ đông đảo, mà chỉ có một lòng một ý. Không một ai coi bất cứ cái gì mình có là của riêng, nhưng đối với họ, mọi sự đều là của chung” (Cv4,32).
Bầu khí của niềm vui này có được là nhờ tất cả chúng ta đều cảm thấy được tự do để trở thành chính mình trong một ý nghĩa sâu xa nhất. Chúng ta không cần phải đóng kịch, giả vờ như thể mình tốt hơn người khác, hoặc tỏ ra tiến bộ để được người khác yêu mến. Chúng ta khám phá ra rằng mình được yêu mến vì chính chúng ta là như thế, chứ không do chúng ta khôn ngoan và khéo léo.
Khi bắt đầu dẹp bỏ những trở ngại và nỗi sợ hãi ngăn cản chúng ta là chính mình, thì chúng ta sẽ trở nên giản dị hơn. Sự giản dị là chính chúng ta. Chúng ta biết rằng mình được chấp nhận với những phẩm chất, những yếu đuối và trên hết là chính chúng ta. Tôi ngày càng nhận ra khó khăn lớn nhất là chúng ta thiếu tự tin. Chúng ta cảm thấy dường như là mình không đáng được yêu, và nếu để người khác biết rõ về mình, thì sợ rằng họ sẽ loại trừ chúng ta. Chúng ta sợ hãi những bóng tối trong bản thân mình; chúng ta sợ phải đối diện với những vấn đề tình cảm hay giới tính; chúng ta sợ mình không có khả năng để yêu mến thực sự. Niềm vui biến thành nỗi buồn, cả hai đều không diễn tả được bản chất thực sự của chúng ta. Làm sao chúng ta có thể tin được rằng mình có thể được yêu thương trong khi chúng ta có đầy những giới hạn và yếu kém, và làm sao chúng ta để có thể tin được rằng mình cũng có khả năng để yêu thương người khác?
Đời sống cộng đoàn tăng trưởng là một huyền nhiệm. Anh chị em chính là món quà Thiên Chúa trao ban cho chúng ta. Khi biết rằng Thiên Chúa và người khác luôn tin tưởng chúng ta, thì chúng ta sẽ dễ dàng để tin vào bản thân mình, và tin tưởng người khác.
Sống cộng đoàn là khám phá và yêu mến một huyền nhiệm độc nhất vô nhị, đó là làm thế nào để chúng ta có thể được tự do, không sống theo ý muốn của người khác, hay một hình ảnh nào đó về chính mình; và chúng ta cũng trở nên tự do để khám phá căn tính của người khác nữa.[9]
III. TIẾN TRÌNH
CỦA ĐỜI SỐNG CỘNG ĐOÀN
1. Ba giai đoạn của đời sống cộng đoàn
1.1. Giai đoạn một:
Hầu hết mọi người đều cảm thấy những ngày đầu tiên sống trong cộng đoàn thật là lý tưởng và tuyệt vời. Họ chưa thể nhận ra được những hạn chế của cộng đoàn mà chỉ thấy mọi thứ đều đẹp đẽ và tuyệt diệu; cảm thấy được bao quanh bởi những vị thánh, những anh hùng, những con người đặc biệt.
1.2. Giai đoạn hai:
Và rồi sẽ đến lúc họ cảm thấy thất vọng - giai đoạn này thường gắn liền với những lúc cảm thấy mệt mỏi, cô đơn, nhớ nhà, gặp thất bại, va chạm với quyền bính. Lúc thất vọng, mọi thứ đều trở nên u ám và làm cho họ căng thẳng, người ta không còn thấy được gì ngoài những lỗi lầm của người khác và của cộng đoàn. Họ cảm thấy bị vây quanh bởi những kẻ giả hình chỉ nghĩ đến nguyên tắc, luật lệ và cơ cấu, những người hay phá rối và thiếu khả năng. Cuộc sống dường như không thể chịu đựng được.
1.3. Giai đoạn ba:
Lúc ban đầu, càng lý tưởng hóa đời sống cộng đoàn và thần tượng hóa những vị phụ trách, thì người ta sẽ càng hụt hẫng, như từ trên cao đâm thẳng xuống vách núi. Nếu cố gắng vượt qua được giai đoạn thứ hai này, người ta sẽ bước vào giai đoạn thứ ba - giai đoạn của thực tại hóa, của cam kết đích thực, của giao ước.
Mọi thành viên của cộng đoàn không còn là những vị thánh hay quỉ dữ, nhưng là những con người có sự hòa trộn giữa cái tốt và cái xấu, giữa bóng tối và ánh sáng, và đang lớn lên cùng với niềm hy vọng của họ. Chính khi thực tại hóa cuộc sống, người ta nhận ra cội nguồn của mình. Cộng đoàn không là thiên đàng và cũng chẳng là hỏa ngục. Nó được vun trồng chắc chắn trên trái đất để mọi người có thể bước đi trong cộng đoàn và cùng với cộng đoàn. Họ chấp nhận thực tại của cộng đoàn và của mọi người, đồng thời tin tưởng cùng với mọi người phát triển hướng đến những điều tốt đẹp hơn.[10]
2. Sự tăng trưởng
của con người và của cộng đoàn.
2.1. Sự tăng trưởng của con người
Mỗi người trong chúng ta đều đang ở trên một hành trình - hành trình cuộc đời. Mỗi người chỉ là một khách hành hương trên con đường ấy. Quá trình phát triển của con người - từ khi còn là bào thai trong lòng mẹ cho tới ngày từ giã cõi đời - vừa rất dài và lại cũng rất ngắn. Quá trình tăng trưởng này nằm giữa hai cái yếu đuối, mỏng manh của con người - yếu đuối của trẻ thơ và của người đang hấp hối.
Trên bình diện hoạt động, quá trình phát triển ấy gia tăng và rồi giảm dần. Em bé và thiếu niên thì tiến đến mức trưởng thành của người thanh niên. Phải mất một thời gian dài người ta mới đạt đến mức trưởng thành bao hàm trong đó khả năng tự lập và sức mạnh. Và rồi bệnh tật và mệt mỏi sẽ ập đến, ta ngày càng phải phụ thuộc vào người khác, cho đến lúc hoàn toàn lệ thuộc giống như một đứa trẻ vậy.
Về mặt hoạt động và hiệu năng, con người tăng trưởng và giảm dần. Nhưng về mặt tình yêu và khôn ngoan, người ta có thể ngày một thăng tiến hơn. Quá trình phát triển tình cảm trải qua những giai đoạn rõ ràng. Trẻ thơ sống nhờ tình thương và sự hiện diện của người lớn - thời thơ ấu là thời của tin tưởng phó thác. Thiếu niên sống nhờ vào lòng quảng đại, những lý tưởng cao vời, cùng với niềm hy vọng. Người trưởng thành thì trở nên thực tế hơn và có thể gánh vác những trách nhiệm - thời kỳ thể hiện lòng trung thành. Cuối cùng người già tìm lại thời của tin tưởng, tức là sự khôn ngoan. Họ không thể hoạt động nữa và vì thế, họ có thời gian để quan sát, ngẫm suy và tha thứ. Họ cảm nhận trọn vẹn ý nghĩa cuộc đời, chấp nhận và thực tế hóa cuộc sống. Họ biết rằng cuộc sống không chỉ được dệt nên bằng những hoạt động và chạy đua, mà chính là đón nhận và yêu thương. Cách này hay cách khác, họ đã vượt qua giai đoạn tự khẳng định mình bằng hiệu năng.
Giữa hai giai đoạn, luôn có những bước chuyển tiếp mà người ta phải vượt qua. Mỗi bước vượt qua đòi hỏi chúng ta phải được chuẩn bị, giáo dục và chắc chắn là có những đau khổ. Cuộc sống của con người chính là đi trên con đường này, con đường phát triển hướng tới một tình yêu thực tế hơn và chân thực hơn. Một hành trình hướng đến hoàn thiện. Trẻ thơ được hiệp nhất trong tính yếu đuối và trong tương quan với mẹ. Nhưng khi chúng lớn lên, sự phân rẽ bắt đầu xuất hiện giữa tình yêu và các mối tương quan khác, giữa ý chí và xu hướng tâm lý, giữa nội tâm và ngoại giới, giữa điều chúng sống và điều chúng nói, giữa ước mơ và thực tại. Khi đạt đến mức trưởng thành độc lập, người ta bắt đầu sợ hãi bản chất yếu đuối, mỏng manh và giới hạn của mình, sợ đau khổ và sợ chết, vì thế họ dựng nên những hàng rào để bảo vệ tính yếu đuối của mình. Cuộc đời của mỗi người là một hành trình của một hữu thể sâu xa đang hòa nhập vào trong những phẩm chất và yếu đuối, trong sự phong phú và nghèo nàn, trong ánh sáng và bóng tối. Phát triển là dần dần bước ra khỏi miền đất đang làm hạn chế tầm nhìn của ta - miền đất mà chúng ta tìm kiếm và làm nô lệ cho những lạc thú ích kỷ, những thiện cảm và ác cảm - để hướng về miền đất của chân trời vô tận và của tình yêu phổ quát - trong miền đất mới, chúng ta yêu thương và mong muốn hạnh phúc cho tất cả mọi người.[11]
2.2. Sự tăng trưởng của cộng đoàn.
Tương tự, đời sống cộng đoàn cũng có những bước vượt qua như thế, và mỗi bước vượt qua của cộng đoàn, cũng đòi buộc chúng ta phải chuẩn bị, đào tạo và chấp nhận gian khổ.
Cộng đoàn có giai đoạn thành lập, tiếp đến đi vào quỹ đạo, và rồi những bước tiếp theo của đời sống thường nhật. Đến thời kỳ cộng đoàn trưởng thành, giai đoạn này nhiều người tìm đến với những giá trị của quá khứ, của thuở ban đầu gia nhập cộng đoàn. Tiếp đến thời kỳ tín trung của cộng đoàn. Có những bước đi của cộng đoàn không rõ như trong đời người, nhưng nó vẫn có đó. Cộng đoàn thi hành quyền bính vào ở mỗi giai đoạn có khác nhau, đồng thời có những biến chuyển về cơ cấu quản trị. Cộng đoàn và những người có trách nhiệm phải lưu tâm để thực hiện những giai đoạn chuyển tiếp này cho tốt. Nhiều căng thẳng trong cộng đoàn xuất phát từ việc một số thành viên từ chối không chịu tăng trưởng. Vả lại, sự tăng trưởng của cộng đoàn tùy thuộc vào sự tăng trưởng của từng thành viên. Luôn luôn có những người không muốn thay đổi. Họ từ chối tăng trưởng. Tương tự như trong cuộc sống, có nhiều người không muốn trưởng thành, và từ chối những đòi hỏi của một giai đoạn mới: họ vẫn muốn là trẻ thơ. Cộng đoàn phải luôn tăng trưởng.
3. Cộng đoàn là gì?
Môi trường tự nhiên làm cho sự phát triển ơn gọi được dễ dàng chính là cộng đoàn, một cộng đoàn được cảm nhận như sự hiệp thông giữa các bản vị, được gắn kết với nhau bằng một tình yêu thương lẫn nhau. Hoàn cảnh này tạo nên một sức mạnh năng động của sự tin tưởng lẫn nhau và tinh thần đồng trách nhiệm, bằng cách lấp đầy những lỗ hổng nơi con người, trong các cơ chế và những sự vật.
Cộng đoàn là một yếu tố cấu thành nên sự thánh hiến của ta và là một phương thế căn bản làm bật lên những giá trị của đời tu như cầu nguyện, các lời khấn, đặc sủng, và một cảm nhận rằng ta chính là Hội Thánh. Cộng đoàn là nơi thực thi bác ái.
Đời sống cộng đoàn hằng ngày tự nó mang tính đào tạo. Trách nhiệm lẫn nhau trong cộng đoàn làm cho ứng sinh “qui về người khác” hơn. Việc xây dựng đời sống cộng đoàn đòi hỏi một sự hy sinh liên tục từ phía các ứng sinh. Văn kiện Optatam Totius, về việc đào tạo linh mục số 5 nói, phải có hợp nhất mật thiết trong tinh thần và trong hành động giữa các nhà đào tạo với nhau, và giữa các ứng sinh với nhau và giữa cộng đoàn đào tạo với những người được đào tạo.[12]
Hiện có hơn 90 định nghĩa, theo quan điểm của đời tu, của giáo luật, của xã hội và nhân chủng học, cho thấy cộng đoàn là gì. Một trong những định nghĩa rõ nhất là:
Cộng đoàn là một tập hợp những cá nhân, những người cùng hoạt động và cùng có quan hệ với nhau theo cách diện đối diện xung quanh một cùng đích chung. Mối tương quan lâu dài họ có với nhau đủ để họ có ảnh hưởng hoặc tác động trên nhau, đủ để thiết lập một xác định rõ ràng tư cách là thành viên của mỗi người và để hoạt động cách đồng nhất. Họ được gọi để sống và chia sẻ các giá trị Tin Mừng với nhau.
Các cá nhân: các cá nhân gia nhập cộng đoàn cùng với nhân cách, lịch sử, cá tính, mặt mạnh và mặt yếu của họ; những cách xử sự họ học được từ thời thơ ấu, cần phải được chấp nhận.
Cùng hoạt động và cùng có quan hệ với nhau: mọi người đều cần sự liên lạc để phát triển. Khi không có liên lạc, cộng đoàn sẽ sụp đổ, căng thẳng sẽ nổi lên và trong hoàn cảnh ấy người ta sẽ phản ứng hơn là hoạt động.
Cùng đích chung: khi các ứng sinh đến với đời tu, họ đến là để tham dự vào một cùng đích chung. “Hãy nên hoàn thiện như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện” (Mt 5,48) Họ không nên tham gia vào một chương trình riêng nào trái nghịch với cùng đích chung.
Sự đồng nhất hóa: khi không có sự đồng nhất hóa rõ ràng với đặc sủng của hội dòng, thì những người mạnh hơn sẽ có ảnh hưởng trên những người yếu hơn. Đôi khi, người ta có thể dễ dàng ẩn núp dưới căn tính của hội dòng, mà lại không có tinh thần của hội dòng. Những người này trở nên độc lập; có đủ cách để xin được phép làm những gì họ muốn. Cộng đoàn có thể trở thành “một thứ nhà trọ”.
Chia sẻ: đây không phải là việc chia sẻ trí thức, hiểu biết, nhưng là chia sẻ kinh nghiệm sống hằng ngày. Trong cộng đoàn họ cần tôi và tôi cần họ. Đó là tác động qua lại của hai người trưởng thành; chia sẻ niềm vui và trách nhiệm, chia sẻ tự do. Ở đây, cần nhấn mạnh đến trách nhiệm của bản thân mọi người bằng cách tránh mọi khuôn mặt cha, chú trong cộng đoàn - một số săn sóc người khác, một số khác lại muốn được săn sóc; vui thật, nhưng thiếu sự ấm cúng.[13]
IV. CỘNG ĐOÀN LÀ
MỘT THÂN THỂ SỐNG ĐỘNG
1. Cộng đoàn là một thân thể sống động.
Thánh Phaolô nói về Giáo Hội, cộng đoàn các Kitô hữu, như một thân thể - thân thể mầu nhiệm. Mỗi cộng đoàn là một thân thể và tất cả chúng ta thuộc về nhau. Cảm thức thuộc về này không do máu huyết, nhưng phát xuất từ lời mời gọi của Thiên Chúa. Mỗi người chúng ta được mời gọi một cách đặc biệt để đến sống với nhau và thuộc về một cộng đoàn, một thân thể. Lời mời gọi này là nền tảng để chúng ta có thể quyết định dấn thân sống với nhau, cho nhau và vì nhau.
“Cũng như trong một thân thể, chúng ta có nhiều bộ phận, mà các bộ phận không có cùng một chức năng, thì chúng ta cũng vậy: tuy nhiều nhưng chỉ là một thân thể trong Đức Kitô, mỗi người liên đới với những người khác như những bộ phận của một thân thể” (Rm 12, 4-5)
Trong thân thể mỗi bộ phận đóng một vai trò. Như thánh Phaolô nói: “Chân thì cần đến tay”. “Hơn nữa, những bộ phận xem ra yếu đuối nhất thì lại là cần thiết nhất; và những bộ phận ta coi là tầm thường nhất thì ta lại quan trọng hơn cả. Những bộ phận kém trang nhã, thì ta lại mặc cho chúng trang nhã hơn nữa” (1Cr 12, 22-23)
“Thiên Chúa đã khéo xếp đặt các bộ phận trong thân thể, để bộ phận nào kém thì được tôn trọng nhiều hơn. Như thế, không có chia rẽ trong thân thể, trái lại các bộ phận đều lo lắng cho nhau. Nếu một bộ phận nào đau, thì mọi bộ phận cùng đau, nếu bộ phận nào được vẻ vang, thì mọi bộ phận cũng vui chung” (1Cr 12, 24-26) và trong thân thể này mỗi bộ phận có một đặc sủng riêng biệt để phục vụ.
“Chúng ta có những đặc sủng khác nhau, tùy theo ân sủng Thiên Chúa ban cho mỗi người. Được ơn làm ngôn sứ thì phải nói sao cho phù hợp với đức tin. Được ơn phục vụ thì phải phục vụ. Ai dạy bảo thì cứ dạy bảo. Ai khuyên răn thì cứ khuyên răn. Ai phân phát thì phải chân thành. Ai chủ tọa thì phải có nhiệt tâm. Ai làm việc bácái thì vui vẻ mà làm” (Rm 12, 6-8).[14]
2. Những đặc sủng khác nhau trong cộng đoàn
2.1. Những người chỉ
chuyên lo cầu nguyện cho cộng đoàn.
Bà Elizabeth O’Connor, trong tác phẩm của mình, cho chúng ta một số ví dụ điển hình minh họa lời giáo huấn của thánh Phaolô. Bà kể câu chuyện về một lão bà gia nhập cộng đoàn. Nhóm người này cố gắng phân định xem đâu là đặc sủng của bà. Còn bà thì nghĩ rằng mình không có đặc sủng gì hết. Mọi người cố gắng an ủi bà: “Đặc sủng của chị chính là sự hiện diện của chị ở đây”. Nhưng điều đó không làm bà thỏa mãn. Sau nhiều tháng bà nhận ra đặc sủng của mình chính là nhẩm tên từng thành viên của cộng đoàn trong lời cầu nguyện trước nhan Thiên Chúa. Khi chia sẻ khám phá này với mọi người, bà nhận thấy chỗ đứng quan trọng của mình trong cộng đoàn. Những người khác cũng nhận ra là họ cần bà và lời cầu nguyện của bà, và nhờ đó họ có thể sử dụng tốt hơn những ân sủng riêng của mình.
2.2. Mỗi một người
trong cộng đoàn là một mắt xích.
“Trong một cộng đoàn Kitô hữu, mọi chuyện sẽ tùy thuộc vào mỗi người có trở thành một mắt xích tuyệt đối cần thiết trong toàn bộ dây xích hay không. Chỉ khi mỗi mắt xích nhỏ nhất này móc nối an toàn thì dây xích mới không thể nào phá vỡ được. Một cộng đoàn mà dung túng cho những thành viên không làm việc gì cả, thì cộng đoàn đó sẽ tan vỡ. Vì vậy, mỗi thành viên nhận một công việc cụ thể để phục vụ vì cộng đoàn, để trong những lúc hoài nghi người ta không cảm thấy mình vô dụng. Mỗi cộng đoàn Kitô hữu phải nhận ra rằng không chỉ người yếu mới cần đến người mạnh mà cả người mạnh cũng không thể tồn tại nếu không có người yếu. Loại trừ người yếu là giết chết tình huynh đệ”
Sử dụng những đặc sủng của mình có nghĩa là xây dựng cộng đoàn. Nếu chúng ta không trung thành, cộng đoàn sẽ yếu đi. Thánh Phaolô nhấn mạnh tầm quan trọng của đặc sủng trong việc xây dựng cộng đoàn. Có rất nhiều những đặc sủng liên quan trực tiếp đến đặc tính của đức ái. Bonhoefler nói về những nhiệm vụ khác nhau mà một cộng đoàn cần phải giữ: đó là ý tứ trong lời nói, khiêm tốn, mềm dẻo, thinh lặng khi bị chỉ trích, biết lắng nghe, sẵn sàng làm những việc phục vụ nhỏ bé, nâng đỡ anh chị em, tha thứ, công bố Lời, nói sự thật và quyền năng.[15]
2.3. Đặc sủng không nhất thiết
phải gắn liền với một chức vụ.
Nó có thể là phẩm chất của đức ái làm cho chức vụ được sống động; có thể một phẩm chất của đức ái không liên quan đến một chức vụ nào cả. Có những người được ơn dễ trực cảm ngay và thậm chí sống với những nỗi đau của người khác - Đó là ơn thể hiện lòng thương cảm. Có những người nhận biết được điều gì là sai trái và có thể xác định ngay nguyên nhân - Đó là ơn hiểu biết. Có những người được ơn sáng suốt, họ có thể nhận rõ đâu là mối bận tâm căn bản của cộng đoàn. Những người khác được ơn để xây dựng một bầu khí vui tươi, sự thoải mái và phát triển cá nhân. Lại có những người được ơn có thể nhận ra nhu cầu của người khác, và giúp đỡ họ. Những người khác nữa được ơn tiếp đón mọi người. Mỗi người nhận được đặc sủng để phục vụ vì lợi ích chung và vì sự phát triển của mọi người.[16]
2.4. Nhớ lại những việc
Thiên Chúa đã làm cho cộng đoàn.
Chính vì thế, điều quan trọng là những thành viên của cộng đoàn phải nhắc nhở nhau, cũng như những người mới đến, về những gì Thiên Chúa quan phòng đã làm, và phải cảm tạ Người về những hồng ân ấy. Lịch sử của cộng đoàn rất quan trọng; cần phải được kể lại, viết lại và lập đi lập lại. Chúng ta mau quên điều Thiên Chúa đã làm! Chúng ta phải nhớ lại rằng Thiên Chúa nguồn gốc mọi sự và chính Người hằng quan tâm chăm sóc cộng đoàn. Vì thế điều mà chúng ta phải tái khám phá đó là niềm hy vọng và sự can đảm. Chúng ta cần phải có những sự liều lĩnh mới, chấp nhận những khó khăn và đau khổ với lòng can đảm và kiên trì. Toàn bộ Kinh Thánh, như dân tộc Do Thái ý thức rõ ràng, là một sự nhắc nhớ liên tục về cách thức Thiên Chúa đã chăm sóc dân Người. Chính khi chúng ta nhớ lại điều này là chúng ta tìm thấy sự tin tưởng để tiếp tục bước đi mà không vấp ngã.[17]
2.5. Hiệp nhất với Thiên Chúa,
đặc biệt với Chúa Thánh Thần.
Nhưng trong lòng mỗi người, theo như ơn gọi âm thầm và đời đời của họ, đều có sự hiệp nhất sâu xa và kín nhiệm với Thiên Chúa. Chắc chắn mỗi người chúng ta được dựng nên để trợ giúp người khác theo cách riêng của mình. Nhưng trên hết, chúng ta được dựng nên để sống mối tương quan duy nhất với Chúa Cha và với Con của Người là Đức Giêsu. Như một ân huệ, sự hiệp nhất âm thầm này chiếu tỏa trên toàn cộng đoàn. Nó phát sinh từ cộng đoàn và làm cho cộng đoàn triển nở.
Đối với tôi, chúng ta nên cầu xin ân sủng đặc biệt của Chúa Thánh Thần - Ân sủng hiệp nhất trong nghĩa sâu xa nhất, với tất cả những hàm ý của nó. Đây thực sự là một ân huệ mà chúng ta có quyền và có bổn phận phải thiết tha mong đợi.
Ân sủng hiệp nhất của cộng đoàn chỉ đến khi mọi thành viên trong cộng đoàn thực sự là mình, sống yêu thương trọn vẹn và sử dụng những đặc sủng của họ. Nhờ được hoàn toàn tác động bởi Chúa Thánh Thần, cộng đoàn trở nên một.
Lời cầu nguyện của Đức Giêsu làm cho ta ngạc nhiên. Tầm nhìn của Ngài vượt xa suy nghĩ và ước muốn của chúng ta. Sự hiệp nhất của Chúa Cha và Chúa Con thì tuyệt đối. Mỗi cộng đoàn phải nỗ lực hướng tới hiệp nhất. Nhưng sự hiệp nhất ấy chỉ có thể đạt được trong và qua Chúa Thánh Thần. Bao lâu còn sống, điều chúng ta có thể làm là khiêm tốn bước đi trên con đường hướng tới hiệp nhất.
Khi có hai hay ba người hợp lại nhân danh Đức Giêsu, thì Người ở đó. Cộng đoàn là dấu chỉ cho sự hiện diện của Đức Giêsu và cũng là dấu chỉ của Giáo Hội. Nhiều Kitô hữu đang phải sống trong cảnh khốn quẫn - những người vợ bị ngược đãi, những người đang sống trong các viện tâm thần, những người sống cô đơn bởi vì họ quá yếu đuối để có thể sống được với người khác - có thể đặt niềm tin nơi Đức Giêsu. Đau khổ của họ là dấu chỉ của Thập Giá, dấu chỉ của Giáo Hội đau khổ. Nhưng một cộng đoàn cầu nguyện và yêu thương lại là dấu chỉ của sự Phục Sinh.[18]
3. Những con người trong cộng đoàn
3.1. Những con người bình thường
với những công việc bé nhỏ
Một cộng đoàn mà chỉ là sự bùng nổ của chủ nghĩa anh hùng thì không phải là một cộng đoàn đích thực. Một cộng đoàn thực sự bao hàm một cung cách sống, cung cách nhìn thực tại, và trên hết là khả năng trung thành trong những việc thường nhật. Việc thường nhật là những gì rất giản đơn - nấu ăn, dọn bàn, rửa chén dĩa, hội họp. Việc thường nhật là trao ban, niềm vui và ca ngợi.
Một cộng đoàn chỉ được hình thành khi mỗi thành viên chấp nhận rằng họ không dự tính làm những chuyện vĩ đại, không dự định trở thành anh hùng, mà chỉ đơn giản sống mỗi ngày với niềm hy vọng mới, như một đứa trẻ biết ngạc nhiên khi mặt trời mọc và tạ ơn khi mặt trời lặn. Cộng đoàn chỉ được hình thành khi mỗi người đều nhận ra sự bình thường của mình, những điều kiện của nhân sinh, và trái đất này, đồng thời tạ ơn Thiên Chúa đã đặt để trong thân thể hữu hạn những hạt giống vĩnh cửu được nhìn thấy qua những cử chỉ nhỏ bé yêu thương và tha thứ hằng ngày. Nét đẹp của con người chính là sự trung tín với những điều kỳ diệu mỗi ngày.[19]
3.2. Những người thầm lặng
Những người nhạy cảm nhất về những gì là thiết yếu của cộng đoàn, những gì thông ban và duy trì tinh thần của cộng đoàn, thì thường lại ẩn mình trong những công việc bình thường, khiêm tốn. Họ không được chọn để đảm nhận những trách nhiệm chính hay những điều ‘quan trọng’, vì thế họ có tự do hơn để hiểu điều thiết yếu. Đây thường là những người nghèo nhất - là người bệnh tật hoặc già cả - những người mang tính ngôn sứ nhất. Những người này không nên bị lôi kéo vào cơ cấu của cộng đoàn vì nó có thể làm họ trệch hướng với đăc sủng để yêu thương và phục vụ. Thế nhưng, người lãnh đạo phải biết họ nghĩ gì bởi vì sự thường thì họ có cái nhìn rõ ràng nhất.
Một trong những đặc sủng quí giá nhất trong cộng đoàn là nhận ra những người không thể đảm nhận những trách nhiệm quan trọng. Họ không có óc tổ chức, gợi hứng ra được điều gì, không có tầm nhìn xa trông rộng và cũng chẳng có tài chỉ huy. Tuy nhiên, họ có trái tim rất nhạy cảm và đầy yêu thương. Họ có thể ngay lập tức nhận ra những người đang gặp khó khăn, và với một nụ cười, một ánh mắt, một bông hoa hay một lời nói, họ có thể làm cho những người này cảm thấy được cảm thông, và có người cùng vác thập giá với mình. Những con người bình thường này là trung tâm của cộng đoàn và họ gánh vác lấy. những khốn cùng của cộng đoàn nữa. Họ cưu mang những người bất mãn, những người khép kín, những người ganh tỵ hoặc bất đồng trầm trọng. Chính tình yêu của những con người thầm lặng này là yếu tố duy trì mối dây hiệp nhất cộng đoàn. Vị lãnh đạo đem lại sự hiệp nhất cho cộng đoàn nhờ vào công lý, nhưng những người có trái tim yêu thương này lại là người kiến tạo sự hiệp nhất nhờ vào hữu thể đang là của họ. Bằng sự dịu dàng của mình, họ trở nên yếu tố kiến tạo bình an.
Đặc sủng quý giá nhất trong cộng đoàn bắt nguồn từ sự yếu thế. Bởi vì khi chúng ta yếu thế và hèn mọn là lúc chúng ta cần người khác, chúng ta sống nhờ họ và sử dụng tất cả những đặc ân của họ. Ngay trong cộng đoàn luôn có những con người bình thường, yếu thế và hèn mọn. Những người ‘vô dụng’ cả về thể xác lẫn tinh thần, những người đau yếu, hay sắp chết, họ đang bước vào mầu nhiệm hiến tế. Qua việc chịu đựng và hiến dâng những khổ đau của mình, họ trở nên nguồn sống cho người khác. Chính những người biết yêu thương, tha thứ và lắng nghe là những người xây dựng cộng đoàn. Họ nhạy bén, sẵn sàng phục vụ người khác, nuôi dưỡng và cầu nguyện cho người khác. Mỗi chúng ta, với ân sủng được ban cho, chúng ta hãy thi hành những ân sủng đó theo cách thức biểu lộ tình yêu và sự dịu hiền của riêng mỗi người. Một cộng đoàn chỉ là cộng đoàn đích thực khi mỗi thành viên nhận ra trong thâm sâu họ cần đến ân huệ của người khác và cố gắng trở nên trong sáng hơn, và đáng tin hơn trong việc thực thi đặc sủng riêng của mình. Như thế cộng đoàn được xây nên từ mỗi thành viên trong những cách thức riêng của từng người.[20]
3.3. Những người sống ngay bên lề cộng đoàn
Nhiều cộng đoàn mang một hay hai người sống bên lề ngay trong cộng đoàn. Những người này dù đã sống lâu trong cộng đoàn nhưng dường như họ khép kín mình lại trong một thứ bệnh tâm thần nào đó. Họ trở nên cay cú, thất vọng, buồn chán. Dường như cộng đoàn không thể tiếp xúc, thậm chí họ từ chối cả những giao tiếp nhạy cảm nhất. Thường thì khi còn trẻ, họ đủ sức để che giấu những thất bại. Nhưng đến lúc sức mạnh vô thức bùng nổ trong họ. Họ thật mâu thuẫn: họ muốn rời bỏ cộng đoàn; mặt khác, họ lại biết rằng họ chẳng có nơi nào khác để đến. Bởi vì từ chối tất cả các tương quan, họ cảm thấy mình vô tích sự và không được yêu thương. Họ đang cô đơn khủng khiếp.
Cộng đoàn nên thỉnh thoáng giúp những người này tìm thấy được nơi cần thiết phù hợp với họ; cũng nên thỉnh thoảng tìm cho họ những trợ giúp chuyên môn. Tuy nhiên, trên hết cộng đoàn nên đón nhận họ như một ân huệ của Thiên Chúa. Những người trở nên sống bên lề cộng đoàn thì thường khó giúp đỡ hơn là những người sống vốn từng là người bên lề xã hội rồi vào trong cộng đoàn. Mặc dù họ quấy rầy chúng ta, nhưng họ cũng giúp cộng đoàn không ngừng cảnh giác với những cách thức để trở nên yêu thương hơn, lắng nghe hơn và tìm thấy nơi những nhỏ nhặt bình thường một sự bình an. Chúng ta phải giúp những người sống bên lề cộng đoàn thoát khỏi mặc cảm tội lỗi, và tình trạng bệnh hoạn. Cộng đoàn hay những vị lãnh đạo có thể phải chịu một phần trách nhiệm về tình trạng này. Có thể các vị lãnh đạo đã đòi hỏi những người này quá nhiều khi họ còn trẻ và đã không quan tâm đến họ cho đủ; có thể các vị đã không quan tâm khi họ sớm có những dấu hiệu gặp phải khó khăn. Nếu được quan tâm sớm hơn, nếu họ đã không phải đơn độc, thì có lẽ họ đã bớt phải đau khổ hơn về sau.
Một số người che giấu những thất bại của mình đàng sau mặt nạ hiệu quả. Khi chúng ta cảm nhận được điều này, chúng ta phải hết sức cẩn thận. Khuynh hướng của chúng ta là cứ để cho họ tiếp tục như thế bằng cách đề cao vai trò của họ. Nhưng sẽ đến lúc họ không còn khả năng che giấu những thất bại của mình: họ cảm nhận sâu sắc một khoảng cách giữa chức năng và sự yếu hèn của họ. Lúc đó, họ có thể hoặc thất vọng sâu xa hoặc gây hấn bằng bạo lực. Đôi khi sẽ tốt hơn nếu cộng đoàn lắng nghe tiếng kêu cứu của họ sớm hơn, ngay khi còn kịp giúp họ. Điều quan trọng nhất là chúng ta phải là người đáng tin và luôn nói cho họ biết chúng ta cảm nhận thế nào về họ.[21]
3.4. Những người già cả
Tuổi già là thời gian quí báu nhất của cuộc đời, đỏ là lúc người ta tiến gần đến vĩnh cửu nhất. Có hai cách bước vào tuổi già. Có những người già luôn lo lắng và đau khổ, sống trong quá khứ và ảo tưởng, họ phê bình mọi thứ diễn ra xung quanh. Họ từ chối không chấp nhận người trẻ; họ tự khép kín trong nỗi buồn và cô đơn, cũng như co cụm bản thân mình lại. Nhưng cũng có những người già với tâm hồn trẻ thơ; họ rút lui khỏi chức vụ và trách nhiệm để tìm thấy một sức sống mới. Họ vừa có được sự ngạc nhiên của một trẻ thơ, vừa có được sự khôn ngoan của chín chắn. Hòa nhập được những năm tháng làm việc, và vì thế họ có thể sống mà không ham hố quyền lực. Tự do trong tâm hồn, chấp nhận được những giới hạn và yếu đuối bản thân, điều đó đã khiến họ trở nên những người chiếu tỏa ánh sáng cho toàn thể cộng đoàn. Họ dịu dàng và nhân ái, là dấu chỉ của lòng thương xót và tha thứ. Họ trở nên kho tàng ẩn giấu, và là nguồn hiệp nhất và sức sống của cộng đoàn.[22] Cộng đoàn cũng cần đến ân huệ này, nhất là khi các bậc cao niên sở hữu một gia sản là cảm thức chung. Chúng ta thường có khuynh hướng bi kịch hóa sự buồn chán và đau khổ của mình. Chúng ta khóc và cố quên đi lý do làm chúng ta khóc. Chúng ta đồng hóa với đau khổ của Đức Kitô và với những tệ hại nhất của thế giới. Bậc cao niên trong cộng đoàn là người từng trải và biết bằng lòng với chính mình.
Các bậc cao niên cảm nhận được nhiều điều. Và có những điều chúng ta tin là chỉ có ở nơi họ. Họ giữ một vai trò quan trọng trong cộng đoàn. Thật nguy hiểm khi người ta nghĩ rằng chính mình là ngôn sứ hoặc gán cho người khác vai trò này. Ngôn sứ thật sự thì không biết mình đang là ngôn sứ, họ chỉ sống và hành động.[23]
3.5. Những con người gương mẫu
Một trong những cách tốt nhất để học làm nghề gốm là sống và làm việc nhiều năm với một người thợ gốm lành nghề. Chỉ có như vậy, ta mới học được thế nào là tình yêu của người thợ gốm dành cho cục đất sét và các sản phẩm, cách ông tiếp đón khách hàng, và hàng ngàn những chi tiết nhỏ nhặt cho thấy tình yêu của ông đối với tác phẩm của mình. Trở thành một người thợ gốm tài ba không chỉ là vấn đề nắm bắt được kỹ thuật; mà nó còn có nghĩa là sống trong một tinh thần tương quan với vũ trụ và với cái đẹp. Chúng ta cần những mẫu gương nếu chúng ta phải cắm rễ sâu trong đời sống cộng đoàn và sống những cam kết của đời sống ấy. Chúng ta cần phải sống với những người hạnh phúc, những người đã trải qua nhiều chặng đường và có thể cả những thử thách, những người đã tìm thấy một bình an nội tâm và một ánh sáng nào đó. Những người này không dạy cho chúng ta những bài học; nhưng chúng ta có thể bước vào ánh sáng của họ và muốn trở nên giống họ. Những người trẻ trong cộng đoàn luôn nhìn vào những vị lớn tuổi đã sống ở đó nhiều năm. Nếu những người này buồn bực hay tức giận, những người trẻ sẽ quyết định rất nhanh rằng họ không muốn trở nên như thế; họ sẽ tin ít nhiều một cách rõ ràng rằng cộng đoàn làm cho người ta bất hạnh. Nếu nhìn thấy được những người sống cách thoải mái và không sợ hãi, người trẻ sẽ coi đó như những nguồn nâng đỡ cho mình.[24]
4. Những vấn đề cụ thể trong cộng đoàn
4.1. Cộng đoàn Thánh Gia
Tình yêu không có nghĩa là làm được những điều khác thường hay anh hùng. Tình yêu có nghĩa là biết làm những điều bình thường với sự dịu dàng. Tôi nhận thấy điều tuyệt diệu là Đức Giêsu đã sống ba mươi năm ẩn dật ở Nadarét với Mẹ của Người và thánh Giuse. Chưa ai biết Người là Đức Kitô, Con Thiên Chúa. Người sống nơi gia đình và nếp sống cộng đoàn trong sự khiêm nhu, theo tinh thần các Mối Phúc. Ngài làm nghề thợ mộc và sống những biến cố nhỏ của cộng đoàn Do Thái trong tình Cha yêu thương. Chỉ khi Người đã sống tin mừng ấy, Người mới ra đi rao giảng. Giai đoạn thứ hai cuộc sống của Người là thời gian tranh đấu, khi Người cố gắng đón nhận sứ điệp thập giá và dùng những dấu chỉ để khẳng định quyền bính của Người. Theo tôi, một số người Kitô hữu gặp phải nguy cơ nói quá nhiều những điều mà mình không sống; họ có lý thuyết phải làm gì để “sống tốt” nhưng lại không biết nó có khả thi hay không, bởi vì họ chưa hề sống lý thuyết đó. Đời sống ẩn dật của Đức Giêsu là mẫu mực cho tất cả mọi đời sống cộng đoàn 29.[25]
4.2. Không phải mọi rắc rối
trong cộng đoàn đều được giải quyết
Nhiều người tin rằng đời sống cộng đoàn có hàng chuỗi những vấn đề phải giải quyết. Một cách ý thức hay vô thức, họ mong đợi một ngày kia tất cả những căng thẳng, xung đột và rắc rối gây ra bởi những người bên lề và cơ cấu sẽ được giải quyết và sẽ không còn nhiều vấn đề tồn đọng nữa! Càng sống lâu trong cộng đoàn, chúng ta càng khám phá ra rằng điều quan trọng không phải là giải quyết những rắc rối đó cho bằng là biết sống với chúng một cách kiên nhẫn. Hầu hết những vấn đề đều không được giải quyết. Với thời gian suy xét và trung tín lắng nghe, mọi sự sẽ được sáng tỏ vào lúc chúng ta ít ngờ nhất. Nhưng rồi sẽ luôn luôn có những vấn đề khác thay thế![26]
4.3. Hãy trung tín với những gì bé nhỏ nhất
Thường thì chúng ta có khuynh hướng tìm kiếm những khoảnh khắc “diệu kỳ” hay những lễ hội tuyệt vời, ấn tượng. Chúng ta quên rằng nguồn lương thực bổ ích nhất có khả năng nuôi dưỡng đời sống cộng đoàn, canh tân con người và mở rộng con tim chúng ta, lại nằm trong chính những cử chỉ trung tín thật nhỏ bé; dịu dàng, khiêm tốn, tha thứ, nhạy cảm và đón nhận vốn làm nên đời sống thường nhật. Chúng ở tại trung tâm của cộng đoàn và nhờ đó chúng ta nhận biết được tình yêu. Những cử chỉ ấy đụng chạm đến trái tim và biểu lộ những ân huệ.[27]
4.4. Những con người gồm thể xác và tinh thần
Một số người loại bỏ thân xác thể lý - dù là của riêng họ hay của cộng đoàn - như là có một thứ dơ bẩn và bản năng của nó thì xấu xa. Những người này không muốn cơ cấu; họ sợ chúng. Họ loại bỏ tất cả những nguyên tắc, luật lệ và quyền bính. Họ cũng không tôn trọng ngay cả nước sơn trên tường. Họ không ý thức về tiền bạc hay trách nhiệm đối với tài sản vật chất. Ý tưởng của họ về một cộng đoàn phải là một cộng đoàn thuần túy tinh thần, được xây dựng bởi tình yêu, tương quan thân tình và sự tự phát. Nhưng điều đó là phi hiện thực: cộng đoàn phải cỏ cả hai thể xác và tinh thần.
Dĩ nhiên, nếu cộng đoàn bị coi thường bởi những người chối bỏ quy luật vật chất, thì nó cũng có thể bị chết ngạt bởi những người chỉ dựa vào nguyên tắc, luật lệ, quản lý tài chính tốt và điều hành hiệu quả. Những người chỉ nhìn dưới khía cạnh này, họ sẽ giết chết trái tim và tinh thần của cộng đoàn. Như stephaen Verney nói: “Chúng ta thuộc về đất và trời hơn là chúng ta quan tâm nhận lấy. Điều đó đúng với cộng đoàn. Thân xác là quan trọng: nó xinh đẹp và chúng ta phải quan tâm tới nó. Nhưng chúng ta làm điều này là để phục vụ cho đời sống, tinh thần, con tim, động lực, hy vọng và phát triển những con người mà vì họ mà cộng đoàn tồn tại.[28]
4.5. Cộng đoàn giàu -
cộng đoàn nghèo –xấu hay tốt
Khó nghèo là một vấn nạn đầy khó khăn! Một cộng đoàn có thể rất nhanh chóng trở thành giàu có, vì những lý do chính đáng nhất. Chúng ta cần có một cái tủ lạnh để có thể mua thịt rẻ hơn và giữ được những thực phẩm dư - và rồi chúng ta cần giữ một máy đông lạnh. Thật đúng khi một kinh phí ban đầu rộng rãi cuối cùng có thể mang lại sự tiết kiệm. Một chiếc xe là tuyệt đối cần thiết nếu chúng ta muốn mua sắm tiết kiệm ở siêu thị; vì vậy chúng ta không đi bộ và sử dụng xe đạp nữa. Máy móc giúp chúng ta làm việc nhanh hơn và có hiệu quả hơn, nhưng cũng có thể làm hỏng một số sinh hoạt của cộng đoàn. Tôi thật sự buồn nếu một lúc nào đó chúng tôi sắm máy rửa chén cho cộng đoàn chúng tôi tại Trosly, nếu có máy, chúng tôi không còn tụ họp lại với nhau, thư giãn và cười nói với những chén đĩa nữa. Những cộng đoàn khác thì muốn nói rằng việc chuẩn bị các món rau cũng tạo cơ hội để chia sẻ. Máy móc cũng có thể ném con người yếu kém nhất ra khỏi công việc và đây là điều đáng buồn, bởi vì sự đóng góp nhỏ nhoi của họ với công việc nhà hay nấu ăn là cách sống của họ đối với cộng đoàn. Chúng ta gặp nguy cơ tổ chức đời sống cộng đoàn không khác như một xí nghiệp - hay chỉ ít là như một phần của xã hội thông thường. Con người có thể làm việc mau lẹ nhờ có máy móc giúp đỡ; họ trở nên bận rộn khủng khiếp, hoạt động luôn tay, trong nhiệm vụ của mỗi người - phần nào như họ là cái máy vậy. Những người kém năng lực thì bị kết án không làm gì cả và cuốn hút vào truyền hình.
Có một quy tắc chuẩn mực cho khó nghèo không? - Một điều chắc chắn rằng - một cộng đoàn trở nên giàu có hơn, không còn thiếu thốn và hoàn toàn tự tin, sẽ trở nên bị cô lập bởi vì cộng đoàn đó không cần sự trợ giúp. Cộng đoàn trở nên ít thuyết phục. Cộng đoàn đó sẽ không thể làm nhiều thứ cho người xung quanh, nhưng lại không thể nhận lấy điều gì cho mình. Sẽ không có trao đổi hay chia sẻ nữa. Cộng đoàn sẽ trở nên người thân cận giàu có. Lúc ấy cộng đoàn sẽ làm chứng được điều gì?
Một cộng đoàn có nhiều nhu cầu thì càng phải chi phí nhiều; nó sẽ gây ra lãng phí hay lạm dụng. Nó sẽ đánh mất đi khả năng tôn trọng tài sản vật chất, mất đi tính sáng tạo với những vật chất và trở nên cẩu thả. Cộng đoàn sẽ đánh mất khả năng phân biệt cái gì là xa xỉ, cái gì là thích hợp cho việc phát triển tinh thần và thể xác, cái gì là thiết yếu cần. Một cộng đoàn trở nên giàu sẽ nhanh chóng đánh mất năng động của tình yêu.
Khi chúng ta trở nên giàu có, chúng ta giương lên những rào cản; có thể chúng ta thuê một con chó giữ nhà. Người nghèo không có gì để bảo vệ và thường chia sẻ chút ít những gì họ có.
Trong một cộng đoàn nghèo, có nhiều sự giúp đỡ và chia sẻ lẫn nhau về vật chất, cũng như sự giúp đỡ từ bên ngoài. Khó nghèo là mối dây liên kết hiệp nhất. Đây là điểm nổi bật của cộng đoàn Arche khi chúng tôi tiếp tục cuộc hành hương với nhau: mọi người chia sẻ niềm vui, đôi khi bằng lòng với chút nho nhỏ. Nhưng khi chúng ta trở nên giàu có, chúng ta sẽ đòi hỏi và khó tính hơn: chúng ta có khuynh hướng sống thu mình lại, cô độc và riêng rẽ. Trong những ngôi làng nghèo ở Châu Phi, người ta chia sẻ cho nhau trong sự tương trợ và lễ hội. Ở những thành phố hiện đại, họ khép kín mình trong những căn hộ riêng. Bởi vì họ có tất cả những điều mà họ cần, họ dường như không cần đến nhau nữa. Họ tự thỏa mãn. Không có sự tương thuộc và không có tình yêu.
Khi người ta yêu thương nhau, người ta hài lòng với một chút ít. Khi chúng ta có ánh sáng và niềm vui trong con tim của mình, chúng ta không cần giàu có vật chất. Cộng đoàn yêu thương nhất thường là cộng đoàn nghèo nhất. Nếu cuộc sống riêng của chúng ta sang trọng và lãng phí, chúng ta không có thể đến gần những người nghèo. Nếu chúng ta yêu thương người nghèo, chúng ta muốn đồng nhất với họ và chia sẻ với họ. Nếu cộng đoàn giầu có, người ta muốn sử dụng chúng và muốn có chúng. Vì thế sự giàu sang có thể nhanh chóng tạo nên những rào cản ganh tỵ, hay mặc cảm tự ti, bởi vì sở hữu đồng nghĩa sức mạnh. Ngược lại, nghèo khó mang đồng nghĩa với yêu thương và đón nhận, vấn đề luôn là: chúng ta có muốn làm chứng cho tình yêu và tiếp nhận, hay chúng ta muốn rút vào phía sau hàng rào tiện nghi và an toàn?
Nhưng một cộng đoàn bề thế và giàu có hơn không nên thất vọng! Họ phải làm chứng cho một hình thức khó nghèo khác; họ có thể tránh được xa hoa và lãng phí. Ví dụ họ có thể tận dụng sự rộng rãi để tiếp nhận nhiều người hơn. Sự giàu có của họ là ân huệ của Thiên Chúa, nhưng nó không thuộc về họ - họ chỉ là người quản lý. Họ phải sử dụng ân huệ này để công bố tin mừng tình yêu và sẻ chia. Những công việc được thực hiện với sự cẩn thận và kỹ xảo biểu lộ nên vẻ đẹp. Đó là tham gia vào hoạt động sáng tạo của Thiên Chúa, Người đã làm tất cả mọi sự cách tốt đẹp và khôn ngoan, tốt đẹp tới chi tiết cuối cùng.[29]
4.6. Cộng đoàn với việc giải trí
Một điều gì đó đặc biệt nối kết một cộng đoàn làm việc chăm chỉ và cẩn thận và tất cả những thành viên điều có vị trí của họ. Một cộng đoàn hoang phí thời gian xem truyền hình rất nhanh chóng đánh mất ý thức sáng tạo, chia sẻ và lễ hội. Họ không gặp gỡ nhau nữa - họ dán mắt vào màn hình. Nơi nào mà có quá nhiều xa hoa và giải trí, lãng phí thời gian và mông lung, cộng đoàn đó trở nên lãnh đạm và căn bệnh ung thư của tính ích kỷ sẽ mau chóng lan rộng.[30]
4.7. Cộng đoàn với việc lao động chân tay
Trong thời đại tự động hóa, chúng ta có khuynh hướng lãng quên giá trị của công việc kỹ xảo tay chân. Người thợ thủ công ở trong sự chiêm niệm. Người thợ mộc mà thực sự yêu mảnh gỗ và biết sử dụng những dụng cụ, thì sẽ không thúc ép mình và không cáu gắt. Ông biết những gì ông đang làm; mỗi hoạt động đều có mục đích của nó và công việc của ông tốt đẹp.
Trong cộng đoàn ở Kerala, tât cả nước để ăn uống, giặt giũ, tưới tắm phải được kéo lên từ giếng. Đó là cách làm giữ chúng ta gần gũi với thiên nhiên vả với nhau.[31]
4.8. Cộng đoàn với đời sống công nghiệp hóa
Đời sống tại các quốc gia công nghiệp hóa đã trở thành nhân tạo, xa rời thiên nhiên. Nhà cửa thì đầy những đồ dùng bằng điện. Thành phố ồn ào, ngột ngạt và ô nhiễm. Dân chúng mệt mỏi vì phải nhiều giờ đi lại bằng tàu điện ngầm, xe lửa hay xe hơi - khi thì mệt mỏi một cách vô lý vì kẹt xe. Những phim ảnh và tin tức tập trung vào bạo lực. Họ không còn khả năng bắt nhịp với tất cả những gì đang xảy ra trên thế giới - động đất ở Guatemala, nạn đói kém ở Sahel, nội chiến ở Lebanon, chia rẽ ở Bắc Ireland, kiểm duyệt báo chí, chính thể chuyên chế, sự tra tấn, những người bị tù tội không xét xử hay bị đưa vào bệnh viện tâm thần khi không có bệnh. Bùng nổ về thông tin. Và dân chúng quá tải vì nó. Người ta không được trang bị để tiêu hóa tất cả những thông tin đầy bi kịch như thế. Đó là lý do tại sao họ bám vào những chuyện hoang đường mới đang rêu rao cứu độ thế giới, hay những giáo phái khắt khe tuyên bố độc quyền nắm giữ chân lý. Con người khi càng cảm thấy lo âu, thì càng tìm kiếm những vị cứu tinh mới - dù là thuộc lãnh vực chính trị, tâm thần, tôn giáo hay thần bí nào. Hay cách khác vì những tác động nhất thời, họ muốn ném đi tất cả mọi thứ để lao vào cuộc đua tranh tiền bạc và danh vọng.[32]
5. Tiến tới một cộng đoàn lý tưởng
Những ai đã bước vào đời sống hôn nhân mà nghĩ rằng hôn nhân sẽ làm nguôi ngoai cơn khát và chữa lành vết thương cho họ thì sẽ không tìm được hạnh phúc. Cũng vậy, những người sống trong cộng đoàn lại hy vọng rằng cộng đoàn sẽ lấp đầy trống vắng và chữa lành họ, thì sẽ thất vọng. Chúng ta chỉ nhận ra ý nghĩa thực của hôn nhân hay đời sống cộng đoàn khi chúng ta hiểu và chấp nhận vết thương của mình. Chỉ khi nào chúng ta đứng dậy, với tất cả những thất bại và đau khổ, và cố gắng giúp đỡ người khác hơn là rút lui vào vỏ ốc của mình, thì chúng ta có thể sống trọn vẹn đời sống hôn nhân hay cộng đoàn. Chỉ khi nào chúng ta thôi không còn dựa dẫm vào người khác, thì chúng ta mới trở nên nguồn sức sống và ủi an, bất chấp mọi vết thương đau. Chính khi đó chúng ta tìm thấy bình an.[33]
V. QUYỀN BÍNH TRONG CỘNG ĐOÀN
1. Đời sống trong
các cộng đoàn tu trì trước Vaticanô II:
Trước Vatican II cộng đoàn được điều hành theo kiểu kim tự tháp. Các bề trên được coi là đại diện của Thiên Chúa, nhờ họ ý của Thiên Chúa đến được với cá nhân tu sĩ. Họ luôn ở trên chóp, họ phải biết hết mọi sự - từ bàn thờ tới nhà bếp. Vâng lời họ thì cũng là vâng lời Thiên Chúa. Nhiệm vụ của bề trên là cung cấp cho các tu sĩ những nhu cầu vật chất và tinh thần và đáp lại, tu sĩ phải tôn trọng, yêu thương và vâng lời họ. Vâng lời là một thứ công nghiệp, vì vâng lời trọng hơn của lễ. Vì thế, các tu sĩ bao giờ cũng xin phép bề trên về mọi sự. Một số cộng đoàn lại còn có thói quen xin phép hằng ngày, hằng tuần và hằng tháng, như xin phép uống nước, thay quần áo...
Trong hệ thống này, các bề trên mang lấy hết mọi trách nhiệm và chỉ giao một số rất ít cho các thành viên khác trong cộng đoàn. Lý do là để tu sĩ được an tâm, không bị phiền nhiễu. Nhưng theo hệ thống ấy, nhiều người đã lớn lên với rất ít hoặc vô trách nhiệm và thiếu trưởng thành. Thường các thành viên không biết những gì đang xảy ra trong cộng đoàn. Đôi khi, họ chỉ biết được nhờ những người ở bên ngoài cộng đoàn. Có rất ít hoặc không có đối thoại, không chia sẻ trách nhiệm, mà chỉ có phân chia công việc; lại càng không có kinh nghiệm phát triển các tài năng của họ, và không có cơ hội để phát huy sáng kiến. Kết quả là, trong cộng đoàn không có được các vị lãnh đạo. Nên bề trên ấy làm hết nhiệm kỳ này tới nhiệm kỳ khác. Vì thế mà chẳng có cải tổ gì, chẳng có thay đổi gì trong nếp sống cộng đoàn 38.[34]
2. Đời sống trong
các cộng đoàn tu trì sau Vatican II:
Sau Vatican II, hệ thống hình tròn được giới thiệu và đưa vào trong lối sống cộng đoàn. Trong hệ thống này, bề trên không chỉ là đại diện của Thiên Chúa mà hơn thế nữa còn là các vị lãnh đạo, những người làm cho cộng đoàn sinh động nhờ đối thoại, chia sẻ trách nhiệm và ra quyết định trong thẩm quyền của họ. Mỗi thành viên trong cộng đoàn cùng nhau tìm kiếm ý Thiên Chúa nhờ việc suy nghĩ trong tinh thần cầu nguyện, đối thoại và quyết định, ở đây, ta nhấn mạnh đến trách nhiệm bản thân và sự hợp nhất trong đa dạng.
Cộng đoàn phải được sống động nhờ tin vào Thiên Chúa, nhờ tình yêu đối với Đức Kitô và nhờ sự hiện diện của Chúa Thánh Thần. Cộng đoàn thúc đẩy các tu sĩ sống kinh nghiệm của các mối phúc của “sự hiệp thông” và “phục vụ” trong một cộng đoàn đặc biệt nào đó với lối sống và đặc sủng của cộng đoàn đó. Lối sống này chỉ có ý nghĩa đối với những ai được Thiên Chúa kêu gọi.[35]
3. Vâng phục bề trên hợp pháp.
Khi người ta nói rằng họ chỉ vâng lời vị bề trên nào đó có thể hoàn toàn tin tưởng, tức là họ đang tìm kiếm một người cha lý tưởng. Đòi hỏi này loại bỏ khả năng chấp nhận người lãnh đạo được bầu với nhiệm kỳ, cũng như việc chia sẻ trách nhiệm đích thực nào đó. Chúng ta phải học biết cách vâng phục vị lãnh đạo đã được chỉ định hay được bầu theo hiến pháp, kể cả những người chúng ta không có chút thiện cảm nào. Khi nào chúng ta có thể cảm nhận được điều này, thì đó là dấu hiệu tốt. Mong đợi như thế là không thực tế. Nếu vâng phục lại đòi điều kiện tin tưởng theo cảm tính như thế thì sẽ dẫn đến tình trạng hỗn loạn và cộng đoàn có thể chết.
Không buộc phải tin tưởng hoàn toàn vào những cá nhân lãnh đạo, nhưng chúng ta nên tin tưởng vào những người đã bầu chọn vị lãnh đạo này và vào hiến pháp, tin tưởng vào cơ cấu, vào sự đối thoại và nhất là vào Thiên Chúa - Đấng luôn quan phòng cộng đoàn. Người biết cách sử dụng ngay cả những người có vẻ thiếu năng lực. Ngài biết phải ban cho họ những ân sủng nào đó để họ chu toàn nhiệm vụ mà không phạm quá nhiều sai lầm. Chúng ta phải tin tưởng rằng những vị lãnh đạo sẽ được ban cho những ơn cần thiết.[36]
4. Quyền bính trong cộng đoàn.
Vị hữu trách cộng đoàn là người nhận lãnh sứ mạng được ủy thác do cộng đoàn bỏ phiếu hay do bề trên chỉ định. Vì thế, vị ấy chịu trách nhiệm với người đã ủy thác. Tuy nhiên, vị ấy cũng nhận lãnh sứ mạng này từ Thiên Chúa. Chúng ta không thể đặt trách nhiệm lên vai người khác mà không giúp đỡ họ, vì như thánh Phaolô nói rằng:
Mỗi người phải phục tùng quyền bính, vì tất cả mọi quyền bính đều đến từ Thiên Chúa. Như vậy, ai chống đối quyền bính là chống đối Thiên Chúa, và hành động như vậy sẽ chuốc án phạt (Rm 13, 1-2)
Bất cứ ai lãnh nhận quyền bính từ Thiên Chúa, thì phải chịu trách nhiệm trước Thiên Chúa. Đó là sự giới hạn và phạm vi của quyền bính con người.
Quyền bính giúp mang lại tự do và làm thăng tiến cá nhân. Đây là công việc của tình yêu. Cũng giống như Thiên Chúa đã quan tâm chăm sóc con cái của Người để nhìn thấy chúng lớn lên trong tình yêu và chân lý thế nào, thì những vị hữu trách cộng đoàn cũng phải phục vụ Thiên Chúa và mọi cá nhân sao cho họ cũng có thể trưởng thành trong tình yêu và chân lý như vậy.
Đây là một trách nhiệm nặng nề, nhưng cũng rất cao cả bởi vì những ai lãnh nhận quyền bính, thì cũng được bảo đảm rằng Thiên Chúa sẽ ban cho khôn ngoan, sức mạnh và những ơn cần thiết giúp họ chu toàn trách nhiệm. Đó là lý do tại sao mà chính những người lãnh đạo phải tham vấn nhiều hơn từ người đã chỉ định họ, giống như người thư ký của hội đồng sẽ làm vậy. Họ phải xin Thiên Chúa soi sáng và khám phá ánh sáng thần linh trong chính tâm hồn mình. Tôi thật tin tưởng vào ân ban của giây phút hiện tại rằng: Thiên Chúa sẽ luôn luôn hiện diện trong những vị lãnh đạo nếu họ biết khiêm nhường và cố gắng phục vụ trong chân lý.
Vị lãnh đạo phải quan tâm đến những gì người khác suy nghĩ nhưng lại không bị đóng khung vào những quan điểm đó. Họ chịu trách nhiệm trước Thiên Chúa nên không có quyền thỏa hiệp, lừa dối, hay trở thành công cụ cho bất công.
Vị lãnh đạo tối cao trong một cộng đoàn luôn luôn cảm thấy cô đơn. Thậm chí nếu có ban cố vấn, thi chính họ sẽ phải đưa ra những quyết định. Sự cô đơn này là thập giá cho họ, nhưng đồng thời nó cũng là sự bảo đảm cho sự hiện diện, ánh sáng và sức mạnh của Thiên Chúa. Đó là lý do tại sao chính họ, hơn bất cứ người nào khác trong cộng đoàn, phải có thời gian ở một mình với Thiên Chúa. Trong những khoảnh khắc cô tịch này, họ sẽ được linh hứng và cảm nhận ra hướng đi. Họ phải tin vào những trực giác này, nhất là khi chúng mang lại một sự bình an nội tâm sâu xa. Nhưng họ cũng phải xác định lại những điều ấy bằng cách chia sẻ với những vị khôn ngoan trong cộng đoàn và sau đó với ban cố vấn. Đương đầu với những quyết định khó khăn cho tương lai, tất nhiên vị lãnh đạo phải tập luyện và suy xét, cũng như sử dụng mọi thông tin có sẵn. Tuy nhiên, cuối cùng vì sự phức tạp của các vấn đề và cũng không thể thấy trước mọi chi tiết cho nên sau khi đã suy xét kỹ lưỡng mọi điều, họ phải dựa vào những trực giác thâm sâu khi ở một mình với Thiên Chúa. Đây là cách thế duy nhất giúp người lãnh đạo có thể đạt được tự do để tiến tới trong những quyết định mà không e ngại đến hậu quả.[37]
5. Vị mục tử tốt.
Vị mục tử không bao giờ được thâu tóm mọi quyền hành. Chúng ta không nên tôn vị này lên vị trí cao như một vị thánh, một nhà ngôn sứ hay một người nắm giữ quyền hành. Mối nguy lớn nhất cho vị mục tử hay lãnh đạo là nghĩ rằng mình luôn đúng và Thiên Chúa luôn ở với họ. Mọi người đều có thể sai lầm. Những người yếu đuối thường có khuynh hướng tìm kiếm sự an toàn bằng cách tôn sùng vị mục tử của họ. Đây là một sự thiếu lành mạnh và sai lầm. Chính những bất an trong đời sống khiến họ muốn thần thánh hóa vị lãnh đạo của mình và chịu mọi sự hướng dẫn của vị này.
Con người là một pha trộn cả điều tốt lẫn điều xấu, ánh sáng và bóng tối. Người mục tử đích thực thì khiêm nhường, biết giới hạn của mình, không can thiệp vào những chỗ không nên, biết tôn trọng ân sủng và đặc sủng của người khác, và cũng biết rút lui đúng lúc. Vị ấy biết được bí mật của các cá nhân, và mối dây liên kết của họ với Thiên Chúa, nhưng ngài cũng để cho người khác giúp đỡ họ nữa để những người này tìm ra được chỗ đứng của mình trong cộng đoàn.
Phải học cách làm một người cha như thế nào? Tôi chắc chắn rằng: chúng ta chỉ có thể là một người cha khi chúng ta ý thức mình là một người con. Chúng ta chỉ có thể ra mệnh lệnh khi chúng ta biết cách vâng lời. Đức Giêsu là con chiên trước khi là người mục tử. Sau hết, quyền bính của Ngài phát xuất từ tư cách Người là Con của Cha.[38]
6. Lãnh đạo là phục vụ, yêu thương.
Có nhiều cách khác nhau để thi hành quyền bính và ra mệnh lệnh. Có quyền bính quân đội, quyền bính công nghiệp và quyền bính cộng đoàn. Mục tiêu của vị tướng lãnh là chiến thắng. Mục tiêu của người lãnh đạo xí nghiệp là lợi nhuận. Mục tiêu của những vị lãnh đạo cộng đoàn thì nhắm đến sự trưởng thành của từng cá nhân trong tình yêu và sự thật.
Người lãnh đạo cộng đoàn có một sứ mệnh kép. Họ phải quan tâm cũng như giữ cho các thành viên của cộng đoàn gắn bó với điều thiết yếu, với những mục đích căn bản của cộng đoàn. Họ phải đưa ra những hướng dẫn để sao cho cộng đoàn không bị lạc lối trong những tranh cãi nhỏ mọn, thứ yếu và phụ thuộc.
Trọng trách của những nhà lãnh đạo là giữ cho cộng đoàn gắn bó với cái thiết yếu. Hơn nữa, các vị này cũng có nhiệm vụ tạo bầu khí vui tươi, an bình và tin tưởng giữa các thành viên trong cộng đoàn với nhau. Qua tình liên đới và tin tưởng đối với mỗi người, họ sẽ tạo được sự tin tưởng trong cộng đoàn giữa các thành viên với nhau. Hữu thể con người chúng ta triển nở trọn vẹn trong bầu khí thoải mái dựa trên niềm tin tưởng lẫn nhau. Nếu cộng đoàn có sự kình địch, nghi kỵ, ghen tuông, sống khép kín, thì đó không phải là một cộng đoàn đúng nghĩa, không có thăng tiến và cũng không có đời sống chứng tá.
Mỗi người lãnh đạo thi hành quyền bính theo những cách thức khác nhau tùy theo vào tính khí của họ. Những vị lãnh đạo với óc sáng kiến, nhờ đó có một cái nhìn về tương lai: họ luôn là người tiên phong. Những người với bản tính khiêm tốn và hay nhút nhát: họ là người cùng đồng hành với anh chị em và là một điều phối viên tuyệt vời. Tuy nhiên, điều cần thiết nhất đối với tất cả những vị lãnh đạo, đó là họ phải là người phục vụ trước khi là thủ lãnh. Những người lãnh trách nhiệm để chứng tỏ một cái gì đó, bởi vì họ có khuynh hướng thống trị hay chỉ huy, bởi vì họ có nhu cầu chiếm vị trí đứng đầu; hay bởi vì họ kiếm tìm quyền lợi và uy tín thì chắc chắn họ sẽ luôn luôn là những vị lãnh đạo tồi. Người lãnh đạo trước hết phải mong muốn trở thành người phục vụ.
Một số cộng đoàn lựa chọn người lãnh đạo căn cứ vào khả năng quản trị hay tư thế của họ đối với người khác. Nhưng đừng bao giờ chọn những vị lãnh đạo dựa trên những phẩm chất tự nhiên; hãy chọn những vị lãnh đạo luôn đặt lợi ích của cộng đoàn lên trên lợi ích cá nhân. Những người có tinh thần phục vụ cộng đoàn và phục vụ anh chị em, dù đôi khi họ có hơi nhút nhát và thiếu khả năng lãnh đạo thì vẫn quý giá hơn nhiều những người tuy có ‘năng lực’ nhưng chỉ biết đến mình.
Người lãnh đạo tốt nhất là người nhận lãnh trách nhiệm như một sứ mệnh từ nơi Thiên Chúa, cậy dựa vào sức mạnh của Người và vào ân sủng của Chúa Thánh Thần. Họ sẽ cảm thấy mình kém cỏi và bất tài, nhưng họ sẽ luôn làm việc một cách khiêm tốn vì lợi ích của cộng đoàn. Họ sẽ có được niềm tin của cộng đoàn vì mọi người đều cảm thấy rằng họ không bao giờ cậy dựa vào tài sức riêng, nhưng luôn luôn cậy trông vào Thiên Chúa. Nơi những con người như thế, cộng đoàn sẽ nhận ra rằng: họ không phô trương, không bị những vấn đề riêng tư che mất tầm nhìn. Họ sẵn sàng rút lui khi thời điểm đến.
Phẩm chất đầu tiên của người lãnh đạo là yêu thương mọi thành viên trong cộng đoàn và quan tâm đến sự thăng tiến của họ. Điều này bao hàm rằng người lãnh đạo cũng phải biết mang lấy những yếu kém của người khác. Các thành viên trong cộng đoàn rất nhạy bén nhận ra người lãnh đạo có yêu thương và tin tưởng họ hay không, có chứng tỏ quyền hành và áp đặt quan điểm không, hay chỉ cố gắng để làm hài lòng.
Đức Giêsu là khuôn mẫu quản trị cho tất cả Kitô hữu. Người rửa chân cho các môn đệ; Người là vị Mục Tử đã hy sinh tính mạng vì đàn chiên của mình, không như người chăn thuê chỉ làm công việc hoàn toàn vì lợi ích riêng của mình.[39]
7. Lãnh đạo phải biết tha thứ.
Tha thứ là trọng tâm của cộng đoàn Kitô giáo và những vị lãnh đạo phải trở thành dấu chỉ và gương mẫu của lòng tha thứ. Họ biết phải làm thế nào để tha thứ tất cả những công kích và lãnh đạm được nhắm vào họ, tha thứ bảy mươi lần bảy. Mỗi ngày, vị lãnh đạo phải học biết làm thế nào để gặp gỡ con người như là một con người và hãy để người khác gặp gỡ mình cũng theo một cách thức như thế; biết rằng tiến trình các thành viên tìm ra được tương quan đích thực với quyền bính là một chặng đường dài. Qua tha thứ, các vị lãnh đạo vượt qua được nỗi sợ hãi và sự phòng thủ của mình vốn là điều làm cho họ bị người khác chống đối và xa lánh. Tha thứ là cởi mở, thanh thản, hiểu biết và kiên nhẫn với những người chống đối mình.
Stephen Verney đã tóm kết điều này thật hay như sau: “Để đương đầu với sự công kích và hèn nhát, người lãnh đạo có thể phản ứng bằng nhiều cách. Vị ấy có thể hướng sự chú ý của nhóm vào mục đích chung, từ đó sẽ làm dịu áp lực lên chính mình. Vị này có thể thiết lập những tương quan nhân vị nồng ấm với từng thành viên của nhóm, trong khi vẫn duy trì quyền điều khiển của mình trên toàn cộng đoàn. Cả hai cách thức này đều có lợi và thúc đẩy sức mạnh của cộng đoàn. Tuy nhiên, nếu vị hữu trách mong muốn giúp cho cộng đoàn sống thích nghi với thời đại mới, thì song song và nối kết với hai cách thức trên, vị này phải chấp nhận cách thức thứ ba là từng bước đi tiên phong chính trong tiến trình tha thứ này. Điều này nói lên rằng vị hữu trách phải tỉnh táo hơn trước thiện hảo và sự dữ luôn quyện chặt vào nhau cả trong chính vị lãnh đạo lẫn trong cộng đoàn. Vị lãnh đạo phải trải qua kinh nghiệm của sự chết và sự phục sinh, nhờ đó mọi việc sẽ được biến đổi và giải thoát. Kinh nghiệm này vị hữu trách không phải chỉ trải qua một lần nhưng là liên tục. Đức Giêsu nói “hãy vác thập giá mình hằng ngày”.[40]
8. Lãnh đạo phải biết kiên nhẫn
vì sự trì trệ của cộng đoàn
Vị hữu trách phải rất kiên nhẫn về sự trì trệ của cộng đoàn. Với chức vụ của mình, vị này phải có cái nhìn sâu sắc hơn; phải nhanh nhạy nắm bắt những nhu cầu của cộng đoàn hơn những anh chị em khác; vị hữu trách ý thức rõ hơn về sự tiến triển của cộng đoàn, về thánh ý Thiên Chúa trên cộng đoàn, và về đòi hỏi cấp bách của niềm tin và chân lý. Những người khác có thể tiến chậm hơn, vị hữu trách không nên ép buộc hay bắt họ theo quan niệm của mình; cũng như đừng làm cho họ cảm thấy có lỗi. Với sự hiền dịu, độ lượng, kiên nhẫn, dễ chấp nhận và trên hết là khiêm tốn của mình, vị hữu trách nên tạo ra một tinh thần tin tưởng. Rồi sau đó đến lượt những người khác, tới thời điểm của mình, họ sẽ phát triển không theo quan niệm của vị này, mà theo cái nhìn của Thiên Chúa trên cộng đoàn, có khả năng lắng nghe, tha thứ và tôn trọng nhịp điệu của mỗi người. Tôi rất thích câu trả lời của Giacóp cho Esau khi Esau mời Giacóp cùng đi với mình:
Ông Esau nói: “Nào chúng ta lên đường, tôi sẽ đi trước chú”. Ông Giacóp trả lời: “Ngải biết là lũ trẻ thì yếu ớt, còn tôi phải lo cho đám chiên và bò đang cho con bú; nếu hối thúc chúng, dù một ngày thôi, thi chiên dê sẽ chết hết. Vậy xin ngài cứ vượt lên phía trước tôi tớ ngài; phần tôi, tôi sẽ đi chậm chậm, theo chân đàn vật đi trước và theo chân lũ trẻ, cho tới khi đến với ngài tại Xêia” (St 33, 13-14).[41]
9. Vị lãnh đạo giỏi và vị lãnh đạo yếu kém.
Một trong những điều quan trọng nhất đối với nhà lãnh đạo, đó là phải biết xác định rõ ràng những ưu tiên của họ. Nếu để mình lạc lối trong hàng ngàn những chi tiết vụn vặt, thì họ sẽ có nguy cơ đánh mất quan điểm của mình. Họ phải chú tâm đến điều thiết yếu. Nhà lãnh đạo giỏi là người làm rất ít, nhưng nhắc nhở cho người khác thấy được điều thiết yếu trong các hoạt động và trong đời sống của họ, và kêu mời họ lãnh trách nhiệm, nâng đỡ, củng cố và hướng dẫn họ.
Những vị hữu trách phải luôn chia sẻ công việc với người khác, thậm chí với những người làm dở hơn mình hoặc có cách làm khác mình. Tự làm thì luôn dễ hơn chỉ cho người khác làm. Những vị hữu trách rơi vào cám dỗ muốn tự ý mình làm lấy tất cả sẽ có nguy cơ bị cô lập.
Khi trao nhiệm vụ cho ai thì đồng thời cũng phải trao cho họ những phương tiện để hoàn thành công việc. Bảo hộ thái quá cuối cùng sẽ dẫn đến từ chối chia sẻ trách nhiệm. Mọi người có quyền sai lầm và vấp ngã. Làm mọi thứ cho họ, thì sẽ giữ được họ cho khỏi sự thụt lùi, nhưng đồng thời cũng cản trở họ tiến tới - quan niệm ‘thành công’ hay ‘thất bại’ không thích hợp trong cộng đoàn.
Chúng ta không để vị hữu trách trách nhiệm một mình. Họ cần những người cố vấn, nâng đỡ, khuyến kích và hướng dẫn họ. Chúng ta không nên để họ phải xoay sở để giải quyết các tình huống và căng thẳng thuộc trách nhiệm của họ. Họ cần có người để dễ dàng trao đổi, hiểu và nhìn nhận trách nhiệm của họ. Họ cần một người khôn ngoan hiện diện bên mình, người ấy không xét đoán, có kinh nghiệm về những công việc thế tục và tạo được tin tưởng, kẻo họ sẽ rơi vào nguy cơ khủng hoảng. Đức Giêsu hứa ban Đấng Bảo Trợ khác cho các tông đồ. Tất cả chúng ta phải là những người nâng đỡ người khác, đáp ứng lại mong muốn của họ. Thập giá của trách nhiệm đôi khi nặng nề và chúng ta cần một người bạn để hiểu mình, một người anh em hay chị em lớn tuổi giúp chúng ta bớt gánh nặng công việc.
Khi cộng đoàn vừa được thành lập, vị sáng lập quyết định mọi công việc. Nhưng dần dần các anh chị em khác gia nhập cộng đoàn làm nảy sinh mối dây huynh đệ. Lúc ấy, vị sáng lập tham khảo ý kiến của các anh chị em này. Vị này không tự mình quyết định công việc, nhưng còn lắng nghe người khác. Tinh thần cộng đoàn nảy sinh. Vị sáng lập bắt đầu khám phá ra ân sủng nơi mỗi người. Vị này cũng khám phá ra rằng người khác có khả năng hơn mình về một số lãnh vực và họ có những đặc sủng mà mình không có. Thế nên, càng ngày vị này càng tin tưởng vào anh chị em mình, học biết chết đi cho chính mình để người khác có thể sống dồi dào hơn. Vị này giữ mối dây liên đới, tham khảo ý kiến mọi người, cộng tác với anh chị em mình trong những trách nhiệm của họ, duy trì tinh thần và sự hiệp nhất cộng đoàn. Khi gặp khủng hoàng, vị này là người phải thi hành quyền bính bởi vì trách nhiệm cuối cùng vẫn thuộc về mình. Khi kỷ luật cộng đoàn bị xao lãng, vị này phải nhắc nhở cho các thành viên về bổn phận của họ. Quyền bính của vị này giảm bớt nhưng vẫn còn ảnh hưởng khá nhiều cho đến khi hết trách nhiệm và người khác lên thay. Lúc đó, niềm vui của ông đã hoàn tất, công việc của ông sẽ được người khác tiếp tục nhưng vai trò của ông không còn.
Quyền bính của vị lãnh đạo trong cộng đoàn cũng tương tự như quyền bính của cha mẹ trong gia đình. Ban đầu họ làm mọi thứ cho con cái, nhưng dần dần trở thành người bạn để con cái có thể tâm sự. Thậm chí họ còn trở thành con cái khi về già. Cha mẹ phải cảnh giác bản năng sở hữu khiến hạn chế sự trưởng thành của con cái. Cũng thế, vị sáng lập cộng đoàn phải biết từ từ rút lui và đừng bám víu vào quyền lực.
Thoạt đầu, vị sáng lập hành động dựa trên quan điểm riêng của mình. Dần dần mọi người sẽ liên kết với vị ấy để trở thành một thân thể sống động với những căng thẳng không tránh khỏi. Lúc này, vị sáng lập không còn hành động như thể mình là duy nhất với quan điểm riêng nữa. Vị ấy phải lắng nghe cộng đoàn, tôn trọng nếp sống và quan điểm của cộng đoàn. Vai trò của vị sáng lập hiểu được đời sống cộng đoàn và giúp nó thăng tiến dưới sự điều khiển của mình.
Có lẽ điều khó khăn nhất mà vị sáng lập phải làm là chấp nhận rằng: quan điểm của người khác có thể phản ánh về cộng đoàn và những mục tiêu cơ bản của cộng đoàn rõ ràng và trung thực hơn quan điểm của mình. Người lãnh đạo tồi chỉ lưu tâm đến kỷ luật và nội quy. Họ không cố gắng tìm hiểu những luật lệ ảnh hưởng thế nào lên con người. Chúng ta dễ sử dụng luật lệ để che lấp sự bất lực trong việc hiểu biết và lắng nghe người khác. Chúng ta lạm dụng luật lệ khi chúng ta sợ người khác.
Người lãnh đạo đừng để mình bị cám dỗ chỉ biết nghe những người nói hay và tìm cách thắng vượt người khác, cũng như thận trọng để dừng bị cám dỗ né tránh những cơ chế đã được thiết lập.
Một điều quan trọng nữa là vị lãnh đạo phải biết lắng nghe những người trẻ mới gia nhập cộng đoàn. Họ có thể bộc lộ ơn gọi, nỗi khát vọng và mơ ước của mình. Vị lãnh đạo phải biết cách lắng nghe họ với sự quan tâm và ngạc nhiên về công trình Thiên Chúa thực hiện nơi họ. Ơn gọi của những người trẻ này có thể cho thấy cộng đoàn phải trở nên như thế nào, cũng như chỉ ra những thất bại của cộng đoàn. Trong tu luật của mình, thánh Biển Đức nói rằng: mỗi khi có vấn đề quan trọng cần bàn thảo, vị lãnh đạo triệu tập toàn thể cộng đoàn để mọi người anh em đưa ra ý kiến của mình. “Thiên Chúa hay gợi hứng cho người trẻ có được những đề xuất hay nhất”.
Đối với những người lãnh đạo, điều quan trọng là phải sống trung thực như mình là, dám chia sẻ những khó khăn và những yếu đuối. Nếu người lãnh đạo giấu kín những điều này thì người khác có thể xem họ như mẫu gương không thể đạt được. Bởi thế, họ phải để cho người khác thấy mình như một con người bình thường, cũng có những sai lầm, nhưng đồng thời mình là người đáng tin cậy và đang cố gắng thăng tiến hơn.
Cũng không có gì là xấu nếu vị lãnh đạo làm một số công việc tay chân, chẳng hạn như rửa chén hoặc thỉnh thoảng nấu cơm. Những công việc này giúp họ sống thực tế trên mặt đất và buộc họ phải bẩn tay. Điều đó tạo nên những tương quan mới; những người cùng làm việc sẽ coi họ như một con người thật sự, chứ không như một con người của chức năng.
Một số người lãnh đạo luôn cần có ai đó gần gũi có thể hất họ xuống khỏi bệ cao, chọc ghẹo và đôi khi cho họ một cú sút dồn vào chân tường. Họ thường gặp phải hoặc nịnh hót, hoặc công kích. Những vị này có thể rất nhanh chóng tự giam mình trong vai trò của mình vì họ sợ hãi hay tự cho mình là một ông trời con. Khi ấy, họ xa rời thực tế. Họ cần những con người mà có thể trêu ghẹo họ một cách tế nhị, không coi họ là quá quan trọng và đưa họ về với thực tại. Tất nhiên, vị lãnh đạo phải tin tưởng vào những người này và biết rằng họ yêu mến mình.[42]
10. Khi lãnh đạo tự mãn.
Càng ngày tôi càng nhận thấy việc thi hành quyền bính trong cộng đoàn là khó khăn biết bao. Chúng ta rất dễ có khuynh hướng nắm quyền bính để được vinh dự, uy thế hay tán thưởng. Sâu xa bên trong mỗi con người chúng ta là một tên bạo chúa nho nhỏ ham muốn quyền và uy thế, muốn thống trị và ăn trên ngồi trước. Chúng ta sợ bị phê bình, sợ bị kiểm soát. Chúng ta tưởng chỉ có mình mới là người nắm bắt chân lý - và đôi khi còn nhân danh Thiên Chúa. Chúng ta xen vào công việc của người khác, đảm đương đủ thứ việc và khư khư nẵm giữ quyền bính. Người khác buộc phải theo ý chúng ta như thể là họ không có khả năng phán đoán. Chúng ta chỉ để cho tự do suy nghĩ khi họ không đe dọa đến quyền bính của chúng ta và trong mức độ có thể kiểm soát. Chúng ta muốn ý mình phải được làm ngay. Như thế, cộng đoàn trở thành dự án “của chúng ta”.
Một số cộng đoàn được thành lập bởi một cá nhân có nhu cầu muốn làm lãnh tụ, muốn chứng tỏ điều gì đó, muốn lập cộng đoàn “riêng cho mình”. Phải luôn luôn giúp đỡ các vị sáng lập để đừng sa vào cái bẫy này và chỉ rõ cho thấy những động cơ thúc đẩy của ông. Ông không nên làm một mình. Tốt hơn là nên thành lập cộng đoàn do hai ba người hợp lại, họ sẽ cùng phán đoán, cùng gánh vác trách nhiệm ngay từ lúc khởi đầu.
Mặt khác, người lãnh đạo ở trong tình trạng nguy hiểm là dễ hoàn toàn lao mình vào những dự án cá nhân; họ làm mọi chuyện để có thể sở hữu “đứa con” của mình. Họ không chịu được những lời phê bình, và chỉ nghe những người đồng ý với họ - họ có thể luôn tìm những người như thế. Cộng đoàn sẽ trở nên ngột ngạt nếu người đứng đầu kìm hãm những người khác, không muốn họ giúp đở anh chị em, không tin tưởng họ, từ chối chia sẻ trách nhiệm hay ngăn cản không cho họ nắm quyền lãnh đạo.
Nếu người nào bắt đầu cộng đoàn với tham vọng chứng tỏ điều gì đó qua “đứa con “của mình, thì người đó phải chết đi cho sự tự mãn bệnh hoạn ấy của mình. Cộng đoàn là của tất cả mọi người sống trong đó chứ không phải của người sáng lập. Trách nhiệm là một thập giá mà vị sáng lập phải mang, nhưng vị này cũng phải mau mắn chia sẻ trách nhiệm để mỗi thành viên có thể nhận ra đặc sủng của họ 47.[43]
Tất cả khuynh hướng xấu đó có thể rất dễ len lỏi vào trong việc thi hành quyền bính của chúng ta ở những mức độ khác nhau. Người Kitô hữu đôi khi che giấu xu hướng xấu đằng sau một mặt nạ đạo đức với những lý do “tốt lành”. Không có gì đáng sợ cho bằng một tên bạo chúa đội lốt tôn giáo. Tôi biết rằng bản thân tôi dễ hướng chiều theo điều này và tôi phải liên lỉ chiến đấu với nó.
Điều quan trọng là trong cộng đoàn, giới hạn quyền bính của mỗi cá nhân cần phải được hiểu rõ và thậm chí phải được viết ra. Người cha nhanh chóng áp đặt quyền của mình lên con cái, muốn chúng phải tuân thủ ý kiến của ông; ông sẽ nhanh chóng cướp mất tự do và mong muốn riêng của chúng.
Không dễ để các vị lãnh đạo tìm được mức độ trung dung trong việc đưa ra các mệnh lệnh, nhiều hay ít. Nguy cơ tự mãn và ham muốn thống trị là rất lớn đối với tất cả các vị lãnh đạo. Họ cần những giới hạn quyền bính và hệ thống kiểm soát giúp cho họ giữ được khách quan và thật sự là người phục vụ cộng đoàn.
Việc tranh đua quyền lực giữa các thành viên trong cộng đoàn và sự ganh tị với thành công của người khác có sức tàn phá khủng khiếp. Một cộng đoàn hiệp nhất thì như một tảng đá; còn một cộng đoàn chia rẽ thì sẽ tự hủy hoại nhanh chóng.
Ngay cả các tông đồ sống bên cạnh Đức Giêsu, đôi khi sau lưng Người, các ông còn tranh luận xem ai trong họ là người lớn nhất (Mc 10, 41-46). Thánh Luca nói họ đã bàn luận về điều ngay trong bữa tiệc ly. Phải chăng đây là lý do khiến Đức Giêsu chỗi dậy rửa chân cho các ông? (Lc 22, 24-28).
Sự tranh đua trong cộng đoàn thường lộ diện rõ ràng khi có một cuộc bỏ phiếu bầu người lãnh đạo. Cũng có thể có sự tranh đua xem ai là người tài trí và đạo đức nhất. Những cuộc chiến về quyền lợi và ảnh hưởng này bắt nguồn sâu xa trong tâm hồn con người chúng ta. Chúng ta lo sợ mình sẽ không tồn tại nếu như không thắng cử hoặc không nắm giữ được một vị trí nào đó. Chúng ta rất nhanh chóng đánh đồng chức vụ với con người, được mộ mến với nhân cách hữu thể.
Không có một quyền bính nào tránh khỏi việc phán đoán quá vội vã làm tổn thương đến những người khác và cuốn họ vào trong vòng luẩn quẩn giận dữ và phiền muộn. Sự hiệp nhất lớn lên từ mảnh đất của khiêm nhường vốn là lá chắn chống lại sự phân ly, chia rẽ. Thần khí sự dữ - tạo ra sự gian dối, ảo tưởng, xáo trộn, và kích động tính kiêu căng - sẽ trở nên bất lực không đối kháng nổi với sự khiêm tốn 48.[44]
11. Những đức tính
của người lãnh đạo cộng đoàn.
Theo Thánh Bộ các Dòng tu và các Hội Dòng, người phụ trách đào tạo đúng nghĩa phải vừa có tài, vừa có đức, vì đào tạo là một công tác rất quan trọng, nhiêu khê và tinh tế. Thật vậy, ngoài khả năng sư phạm và những kiến thức nền tảng về thần học cũng như tu đức, những người phụ trách đào tạo cần có những đức tính sau đây:
- Khả năng trực giác và cởi mở.
- Kinh nghiệm sâu xa về Thiên Chúa và về cầu nguyện.
- Khôn ngoan, nhờ biết lắng nghe và nghiền ngẫm Lời Chúa.
- Yêu thích phục vụ và ý thức được vai trò của nó trong việc giáo dục đời sống tâm linh.
- Có trình độ văn hoá cần thiết.
- Có thời giờ và thiện chí để chăm sóc tất cả và từng thụ huấn sinh, chứ không chỉ giáo dục tổng quát, chung chung cả nhóm.
Nhiệm vụ cao quý này đòi hỏi nơi người phụ trách đào tạo nhiều đức tính nhân bản lẫn tâm linh, như đời sống nội tâm, tinh thần hy sinh, nhẫn nại, kiến thức chuyên môn, lòng yêu nghề và yêu thương thực sự những người mà họ có trách nhiệm hướng dẫn.[45]
12. Những khó khăn trong công việc đào tạo.
Để giải quyết vấn đề khó khăn của việc đào tạo, có người đề nghị thành lập một ban đào tạo. Một nhóm có tinh thần đối thoại, biết làm việc theo ê kíp, cởi mở, hỗ trợ và tin tưởng nhau... sẽ giải quyết được nhiều bế tắc. Nhưng xem ra người Việt Nam chúng ta khó cộng tác với nhau và chưa được đào tạo để làm việc theo ê-kíp. Chính vì vậy đã nẩy sinh một số khó khăn giữa những người cùng làm công tác đào tạo:
- Khó thống nhất với nhau về đường hướng đào tạo, nhất là khi Hội Dòng chưa có một định hướng đào tạo rõ rệt và khả thi.
- Những khó khăn trong việc cộng tác và phân chia công việc, vì những giới hạn về tính tình và thiếu kinh nghiệm làm việc ê-kíp của đôi bên.
- Nhiều khi hiểu lầm và xích mích nhau về những chuyện tầm phào.
- Khác biệt về kiến thức, kinh nghiệm, tính tình, quan điểm và tuổi tác.
- Có cộng tác viên làm việc tà tà, có cộng tác viên khác rất nhiệt thành, nhưng quá khắt khe, thiếu thông cảm với những khó khăn của người thụ huấn trong giai đoạn đầu.
- Có khuynh hướng phóng đại khuyết điểm của người thụ huấn.
- Có người thích đốt giai đoạn, thiếu kiên nhẫn và đòi hỏi quá sớm thành quả nơi người thụ huấn.
- Một số cộng sự viên còn quá trẻ, chưa đủ kinh nghiệm, hơn nữa lại đang bù đầu vào việc học... nên cũng chẳng đóng góp được bao nhiêu cho công tác đào tạo.
Chắc chắn phải mất một thời gian nữa chúng ta mới có một đội ngũ những người phụ trách đào tạo mà các Hội Dòng mong muốn. Tuy nhiên, cũng nên thận trọng và thực tế. Nếu đòi hỏi người phụ trách đào tạo phải hội đủ tất cả những tiêu chuẩn liệt kê ở trên thử hỏi ai dám đảm nhận công tác này? Hơn nữa, dù có đốt đuốc đi tìm khắp nước chắc gì đã gặp một vài người hội đủ những tiêu chuẩn đó!
Cho dù hoàn cảnh khó khăn, điều kiện làm việc eo hẹp và khả năng chuyên môn giới hạn đến đâu đi chăng nữa, có một điều không thể thiếu vắng nơi người phụ trách đào tạo và cũng chẳng có thể vịn bất cứ lý do nào để biện minh cho sự thiếu vắng này: đó là một tấm lòng, sự tận tụy, thái độ bao dung và tình yêu thương, ơn gọi tu trì là một câu chuyện về tình yêu và về nỗi khát khao bước theo Đức Kitô. Nhiều thụ huấn sinh đã ở lại vì đã “cắn câu” tình yêu, chứ không phải vì đã khuất phục trước lý lẽ. Thần bí gia Eckhart O.P. đã nói: “Vì tình yêu tương tự như lưỡi câu của người ngư phủ. Ông ta không bắt được cá nếu cá không cắn câu”.[46]
[1] Charles Serrao, OCD, Biện phân ơn gọi tu trì, trg..80-81
[2] Charles Serrao, OCD, sđd trg.83-85
[3] Jean Vanier, Thăng tiến cộng đoàn, trg.8-9
[4] Jean Vanier, sđd trg.10-12
[5] Jean Vanier, sđd trg.20
[6] Jean Vaier, sđd trg.21-22
[7] Jean Vanier, sđd trg.,22
[8] Jean Vanier, sđd tr.36
[9] Jean Vanier, sđd trg.27-29
[10] Jean Vanier, sđd tr.46
[11] Jean Vanier, sđd trg.47-48
[12] Charles Serrao, OCD, Biện phân ơn gọi tu trì, trg.73
[13] Charles Serrao, OCD, sđd trg.74-75
[14] Jean Vanier, sđd trg.36-38
[15] 19 Jean Vanier, sđd trg.40
[16] Jean Vanier, sđd trg.41
[17] Jean Vanier, sđd trg.146
[18] Jean Vanier, sđd trg.42-44
[19] Jean Vanier, sđd trg.85
[20] Jean Vanier, sđd trg.232-235
[21] Jean Vanier, sđd trg.151-152
[22] Jean Vanier, sđd trg.117
[23] Jean Vanier, sđd trg.225
[24] Jean Vanier, sđd trg.117-118
[25] Jean Vanier, sdd trg.168
[26] Jean Vanier, sđd trg.270
[27] Jean Vanier, sđd trg.270
[28] Jean Vanier, sđd trg.271
[29] Jean Vanier, sđd trg.272-275
[30] Jean Vanier, sđd trg.276
[31] Jean Vanier, sđd trg.276
[32] Jean Vanier, sđd trg.281
[33] Sđd., sđd trg.300
[34] Charles Serrao, OCD, Biện phân ơn gọi tu trì, trg.75-76
[35] Charles Serrao, OCD, sđd trg.77
[36] Jean Vanier, Thăng tiến cộng đoàn, trg.204
[37] Jean Vanier, sđd trg. 184-186
[38] Jean Vanier, sđd trg.215
[39] Jean Vanier, sđd trg. 186-188
[40] Jean Vanier, sđd trg.208
[41] Jean Vanier, sđd trg.209
[42] Jean Vanier, sđd trg.193-199
[43] Jean Vanier, sđd trg.89
[44] Jean Vanier, sđd trg.190-192
[45] Nguyễn Thái Họp, O.P, Để họ lớn lên, trg.167
[46] Nguyễn Thái Hợp, O.P, sđd trg.169-170