Nhảy đến nội dung

Đây là mình Thầy- Giêsu Nadarét, Vua Dân Do Thái

“ĐÂY LÀ MÌNH THẦY”

TMĐP- Cao điểm cuộc tử nạn của Đức Giêsu là Ngài đã hiến mình để chuộc tội nhân loại mà Ngài đã chuẩn bị kỹ lưỡng bằng việc rửa chân cho các môn đệ và lời trối trăn “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em”.

Tin Mừng Gioan kể lai rất chi tiết việc Đức Giêsu rửa chân các môn đệ: từ hành động “đứng dậy, rời bàn ăn, cởi áo ngoài ra, lấy khăn mà thắt lưng. Rồi Đức Giêsu đổ nước vào chậu, bắt đầu rửa chân cho các môn đệ và lấy khăn thắt lưng mà lau” đến phản ứng của môn đệ Phêrô khi ông thưa với Đức Giêsu: “Thầy mà rửa chân cho con sao , không đời nào con chịu đâu!” Đức Giêsu đáp:”Nếu Thấy không rửa cho anh, anh sẽ chẳng được chung phần với Thầy” (Ga 13,4-6.8).

Qua việc rửa chân này, Đức Giêsu dạy các môn đệ, tức những người đi theo Ngài bài học phục vụ: “Anh em gọi Thầy ‘là Thầy, là Chúa’, điều đó phải lắm, vì quả thật, Thầy là Thầy, là Chúa. Vậy, nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau” (Ga 13-14).

Bài học vừa khó vừa dễ:  khó nếu phải quỳ xuống  rửa chân cho  người ngang cơ hoặc thấp cơ hơn mình, khó nếu người mình rửa chân là kẻ thù, là người mình không ưa, không thích, nhưng dễ, nếu  rửa chân cho  người làm lớn, kẻ có quyền, như  vua quan, Đấng Bậc vì  ta sợ họ, vì việc rửa chân ấy  ít hay nhiều, sớm hay muộn, cách này hay cách khác  sẽ có lợi cho ta.

Ở đây, Đức Giêsu không dạy chúng ta rửa chân để thủ lợi, nhưng rửa chân vì khiêm hạ phục vụ vô vị lợi, như chính Ngài đã “đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ…” (Mt 20,28).

Bước chuẩn bị tiếp theo là lời trăn trối: “Anh em hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương anh em”, vì “mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này: là anh em có lòng yêu thương nhau” (Ga 13,34-35).

Lời trăn trối của Đức Giêsu không còn là một đề nghị hay khuyên bảo, nhưng là lệnh truyền, mà người muốn  đi theo làm môn đệ Ngài  dứt khoát không thể bỏ qua, vì gắn liền với căn tính của môn đệ Đức Giêsu. Nói cách khác, không yêu thương nhau, người ta không thể  trở thành  môn đệ của Đức Giêsu; không yêu thương nhau, không ai có thể thực thi sứ vụ   làm chứng  Đức Giêsu là Thiên Chúa Tình Yêu, và Tin Mừng Cứu Độ.

Tuy thế, phục vụ và yêu thương  phải dẫn đến chọn lựa sau cùng và tuyệt đỉnh của tình yêu là “hiến mình”, hy sinh chính mạng sống mình vì “không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu” (Ga 15,13).

Đức Giêsu ngay từ buổi đầu gặp gỡ những người muốn đi theo Ngài, đã mời gọi họ phải “từ bỏ mình”, và từ bỏ mình được Ngài coi  như điều kiện thứ nhất, quan trọng hơn hết và đứng  trước cả điều kiện vác thập giá và đi theo Ngài : “Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo” (Mc 8,34).

Tại sao vậy?

Vì không bỏ mình, người ta có thể  vì danh dự, uy tín, lợi ích cá nhân mà sẵn sàng  hy sinh vác thập giá, và  chịu khó đi theo Đức Giêsu, bởi  trong thực tế, đã có  rất nhiều  người tự nhận mình là môn đệ  Đức Giêsu, và đã  gồng mình hy sinh, đã cắn răng vác thập giá nhưng không hy sinh  vì Đức Giêsu, không vác thập giá vì Giáo Hội,  không chịu thương chịu khó  vì người khác mà hy sinh vì mình,  gồng mình  để  tìm cho mình chỗ đứng  thần thế, cắn răng chịu thương chịu khó  để  xây  cho mình  pháo đài “sự nghiệp”cao cả, lớn lao.

Đòi người môn đệ phải bỏ mình, Đức Giêsu còn đòi họ phải tự hiến mình làm của lễ như Ngài đã “hiến dâng mạng sống làm giá cứu chuộc muôn người” (Mt 20,28), vì làm môn đệ Đức Giêsu đồng nghĩa với “chết với Ngài” (2 Tm 2,9), trở nên “đồng hình đồng dạng với Đức Kitô chịu đóng đinh để kiện toàn những đau khổ còn thiếu sót  nơi thập giá của Ngài như thánh tông đồ dân ngoại đã ao ước : “Những gian nan thử thách Đức Kitô còn phải chịu, tôi xin mang lấy vào thân cho đủ mức, vì lợi ích cho thân thể Người là Hội Thánh” (Cl 1, 24).

Vì thế, ngay từ giây phút đầu kêu gọi các môn đệ đi theo Ngài dọc biển hồ Galilê cho đến phút cuối khi  họ được Ngài nhận là  bạn hữu thiết thân  như cành nho kết hợp với cây nho trong bữa Tiệc Ly, ở đó Đức Giêsu đã cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, rồi bẻ ra, trao cho các môn đệ và nói: ” Đây là Mình Thầy, hiến tế vì anh em. Anh em hãy làm việc này mà tưởng nhớ đến Thầy” (Mc 22,19), Đức Giêsu đã luôn đặt việc từ bỏ mình là ưu tiên số một, hiến dâng mạng sống mình là điều kiện tất yếu, vì Ngài biết không hiến thân, quên mình, người ta chỉ có thể là môn đệ thời cơ, nửa vời, vụ lợi, mà không thể trở thành môn đệ đích thực như lòng Ngài mong ước.

Chính vì mong ước những người đi theo mình phải luôn sẵn sàng hiến mình, quên mình, mà Đức Giêsu đã ân cần căn dặn: “Anh em hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy”. “Việc này” là việc hiến mình làm của lễ của Ngài, “việc này” là việc liên lỷ quên mình để có thể yêu thương, phục vụ, vì không quên mình, “cái tôi ích kỷ” sẽ chẳng cho người môn đệ  hạnh phúc khi  hy sinh cho người khác; không hiến mình, “cái tôi kiêu căng” sẽ chẳng  cho người môn đệ niềm vui khi phục vụ tha nhân cách vô vị lợi.

Ước gì mỗi khi tham dự Thánh Lễ, chúng ta nhớ lại lời trăn trối vô cùng quan trọng của Đức Giêsu: “Đây là là Mình Thầy sẽ bị nộp vì các con” để noi gương Chúa quên mình, hiến mình cho tha nhân trong sứ vụ, và  trong đời sống thường ngày như Chúa đã hiến mình để cứu chuộc nhân loại, và cứu chuộc mỗi người chúng ta.

Jorathe Nắng Tím    

=======

Giêsu Nadarét, Vua Dân Do Thái

TMĐP- Ngước nhìn lên Đức Giêsu, Vua Tình Yêu trên Thánh Giá, chúng ta xin được cùng “viên đại đội trưởng cất tiếng tôn vinh Thiên Chúa rằng: “Người này đích thực là người công chính!” (Lc 23,47), là Vua vô cùng bao dung thương xót  của các tội nhân đang cần được khoan hồng thứ tha ở giờ lâm tử.

Tin Mừng Gioan ghi rõ : “Ông Philatô cho viết một tấm bảng và treo trên thập giá; bảng đó có ghi : “Giêsu Nadarét, Vua dân Do Thái. Trong dân Do Thái, nhiều người  đọc  được bảng đó, vì nơi Đức Giêsu bị đóng đinh là một địa điểm ở gần thành. Tấm bảng này được viết bằng các tiếng: Hípri, Latinh và Hy Lạp. Các thượng tế của người Do Thái nói với ông Philatô: “Xin Ngài đừng viết: ‘Vua Dân Do Thái’, nhưng viết: “Tên này đã nói: Ta là Vua dân Do Thái”. Ông Philatô trả lời: “Ta viết sao, cứ để vậy!” (Ga 19,19-22).

Không nói thì chúng ta cũng biết: không đời nào các thượng tế và những người Do Thái chống lại giáo lý mới của Đức Giêsu lại đồng ý với tấm bảng Philatô vừa truyền  viết và treo lên, vì họ không nhận Đức Giêsu là Vua của họ, nhưng với họ, Ngài là kẻ lạc giáo, chống lại lề Luật Môsê, là tên phạm thượng tự nhận mình là Con Thiên Chúa, Đấng Thiên Sai.

Ở đây, chúng ta thấy ông Philatô không còn nghe theo lời bàn của các thượng tế, cũng không tỏ ra sợ hãi trước áp lực của đám đông người Do Thái quá khích, cuồng tín như ông đã sợ và nhượng bộ để họ đem Đức Giêsu đi đóng đinh, mặc dù ông thấy Ngài vô tội  và công khai tuyên bố: “Ta không tìm thấy lý do nào để kết tội ông ấy”  (Ga 19,4). Trái lại, ông lì lợm và lạnh lùng trả lời: Ta viết sao, cứ để vậy!”.

Vì thế, dù không muốn, các thượng tế và những người Do Thái thù ghét và tìm cách giết  Đức Giêsu cũng phải ngậm đắng nuốt cay khi thấy mọi người đi qua  đang ngước mắt  đọc tấm bảng: “Giêsu Nadarét, Vua dân Do Thái”, tức Vua của họ.

Thực ra, họ không thể nhận Đức Giêsu là Vua của họ, vì họ trông đợi một vị vua hùng mạnh, đánh đông dẹp bắc để giải phóng họ khỏi gông cùm  của các đế quốc, trong khi Đức Giêsu không kêu gọi họ vùng lên, không lôi kéo họ đứng dậy chống đế quốc, hay thúc đẩy họ xuống đường  đình công, gây rối loạn, nhưng kêu gọi “yêu kẻ thù  và cầu nguyện cho  những kẻ ngược đãi anh em” (Mt 5,44); họ không thể tôn Đức Giêsu làm Vua của họ, vì  công dân Nước của Ngài là những con người  nghèo khó, hiền lành, khiêm hạ,  đau ốm, tật nguyền, bị khinh miệt, bỏ rơi, cơ nhỡ, bé nhỏ  trong khi họ mơ một đất nước gồm toàn những người quyền thế, giàu sang, một dân tộc tuyệt hảo vượt trên các dân tộc khác; họ càng không thể  thần phục Đức Giêsu như Vua của họ, vì hiến chương của Nước Ngài, đường lối của Vương Quốc Ngài hoàn toàn trái ngược với những gì họ đi tìm, bởi  Ngài là Tình Yêu, và Nước Ngài là Nước của lòng Thương Xót, Bao Dung, Tha Thứ.

Suốt ba năm loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa, Đức Giêsu đã nói với họ về sứ vụ Cứu Thế của Ngài là “loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn, công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Chúa” (Lc 4, 18-19), và làm chứng  các điều Ngài nói, giáo lý Ngài dạy  bằng các phép lạ  chữa lành mọi bệnh tật, xua đuổi ma quỷ, có uy quyền trên thiên nhiên, cho kẻ chết sống lại. Ngài cũng cho họ biết rõ Ngài đến để cứu những người tội lỗi, và ai tin vào Ngài  “thì khỏi phải chết,  nhưng được sống muôn đời”, vì Ngài được Chúa Cha sai xuống thế gian “không phải để lên án thế gian”, nhưng nhờ Ngài mà được cứu độ (x. Ga 3,16-17).

Nhưng đặc biệt hôm nay, khi bị treo trên Thánh Giá chính là lúc thế quyền mà Philatô là người đại diện đã công khai tuyên xưng Ngài là Vua dân Do Thái, mặc dù phần đông dân Do Thái không nhận Ngài là Vua của họ. Nhưng không vì thế mà Ngài không là Vua, không vì thế mà Ngài từ bỏ Vương Quyền yêu thương của mình, cũng không vì thế mà Ngài đóng cửa Vương Quốc Thiên Đàng  dành cho những con người có quả  tim biết chạnh lòng thương cảm, có  tâm hồn tinh tế và  bén nhạy trước nhu cầu của tha nhân (x. Mt 25, 31-46).

Trên Thánh Giá hôm ấy có tấm bảng ghi rõ Đức Giêsu, người làng Nadarét là Vua  dân Do Thái, và  từ trên Thánh Giá là  ngai của Đức Vua  giàu lòng thương xót ấy, mọi kẻ  xúc phạm, chửi rủa, lên án, tra tấn, đóng đinh Ngài đã được Ngài rộng lượng thứ tha qua lời cầu nguyện chan chứa lòng  thương xót: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23,34), để cửa Thiên Đàng  rộng mở đón hết những ai   tín thác ở Ngài, như anh gian phi đã đặt  hy vọng vào Ngài khi thưa với Ngài: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi!”, và Đức Vua Giêsu  từ bi nhân hậu đã đáp lời anh: “Tôi bảo thật, ngay hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng” (Lc 23,42-43).

Quả thực, hạnh phúc lớn lao  của người Kitô hữu  là được làm dân trong Vương Quốc  của Vua Giêsu  hiền lành khiêm nhường, từ bi nhân hậu, giàu lòng thương xót, bao dung . Là Vua  từ bi nhân hậu, “cây lau bị giập, người không đành bẻ gẫy,  tim đèn  leo lét, cũng chẳng nỡ tắt đi” (Is 42,3); là Vua hiền lành, khiêm hạ, Ngài  ở với và chia sẻ cảnh khốn cùng của ta; là Vua  giàu lòng thương xót,  “Ngài cảm thương những  nỗi yếu hèn của ta” và “cảm thông với những kẻ ngu muội, lầm lạc..” (Dt 4,15;  5,2); là Vua các vua,  “Người chính là nguồn ơn cứu độ cho tất cả những ai tùng phục Người”  (Dt 5,9).

Ngước nhìn lên Đức Giêsu, Vua Tình Yêu trên Thánh Giá, chúng ta xin được cùng “viên đại đội trưởng cất tiếng tôn vinh Thiên Chúa rằng: “Người này đích thực là người công chính!” (Lc 23,47), là Vua vô cùng bao dung thương xót  của các tội nhân đang cần được khoan hồng thứ tha ở giờ lâm tử.

Jorathe Nắng Tím

Tác giả: