Nhảy đến nội dung

07 Bài 07

  • T2, 27/01/2025 - 18:23
  • admin1

7. GIÁO LUẬT VỀ BÍ TÍCH HÔN NHÂN

Thưa anh chị,

Có lẽ chẳng có đôi bạn nào muốn tổ chức lễ cưới âm thầm, lánh mặt mọi người. Cô dâu nào cũng muốn được ra mắt với mọi người một cách huy hoàng và trang trọng trong ngày vu quy: Vâng, hôn nhân là một công cuộc có tính cách công khai. Khi cưới vợ lấy chồng, ai cũng muốn hôn nhân của họ được pháp luật công nhận va bảo vệ. Luật hôn nhân của Giáo hội được đặt ra một phần cũng để bảo đảm tính chất xã hội của hôn nhân, nhưng nhất là để giúp vợ chồng đạt được cùng đích của hôn nhân như chương trình của Chúa: Bảo đảm sự kết hợp, yêu thương, nâng đỡ của vợ chồng trong việc chu toàn tốt đẹp việc sinh sản, nuôi nấng và giáo dục con cái.

Tuy nhiên, luật của Giáo hội chỉ ràng buộc người Công giáo. Trong trường hợp chỉ có vợ hoặc chồng theo Công giáo thì cũng chỉ có bên Công giáo bị ràng buộc thôi.

Ở đây, tôi xin tóm tắt mấy điểm chính về luật hôn nhân của Giáo hội :

1– Đối với những người chưa được rửa tội, hôn nhân cử hành trước mặt đại diện nhà nước hoặc theo nghi lễ gia tộc có đủ giá trị và có tính cách vĩnh viễn. Nhưng đối với người Công giáo (dù chỉ có một bên theo đạo Công giáo mà thôi), hôn nhân cử hành trước mặt đại diện nhà nước hay theo nghi lễ gia tộc chưa đủ, phải cử hành theo luật Giáo hội nữa mới có giá trị (GL 1059).

2– Có những trường hợp hai người không được phép lấy nhau:

a/ Một trong hai người còn bị ràng buộc bởi một cuộc hôn nhân trước.

b/ Một trong hai người chưa đến tuổi tối thiểu (theo luật Giáo hội, tuổi tối thiểu được ấn định là 14 cho nữ giới và 16 cho nam giới. Nếu dân luật ấn định tuổi tối thiểu lớn hơn thì Giáo hội dạy phải theo thủ tục của dân luật. Ở Việt Nam ta, nam trên 20 và nữ trên 18).

c/ Một trong hai người không được tự do, tức là chấp thuận hôn nhân chỉ vì sợ sệt hay vì bị ép buộc rõ ràng.

d/ Một trong hai người trước khi kết hôn đã mắc chứng bất lực không thể chữa trị được, tức là không thể giao hợp hay sinh con một cách bình thường được.

e/ Hai người có bà con gần như anh em ruột, anh em họ, chú hay cậu với cháu, cô hay dì với cháu.

Trong các trường hợp trên, mặc dù hai người lấy nhau, cuộc hôn nhân không thành sự. Ngay cả Hội thánh cũng không được cho phép các trường hợp trên, trừ trở ngại về tuổi tối thiểu và trở ngại vì bà con giữa anh em họ hoặc chú hay cậu với cháu (hoặc cô hay dì với cháu), vì hai trường hợp này chỉ là trở ngại do giáo luật mà thôi. (GL 1083 – 1094).

3– Trong hai trường hợp sau đây, người ta chỉ được lấy nhau nếu được Giáo hội cho phép:

a/ Một trong hai người bị ràng buộc bởi lời khấn hay chúc thánh (GL 1078-:2,1; 1087-1088).

b/ Hai người theo hai đạo khác nhau (GL 1086 ; 1124– 1129).

Sở dĩ Giáo hội thận trọng trong cuộc hôn nhân khác tôn giáo cũng chỉ vì yêu thương đôi hôn phối mà thôi. Muốn hạnh phúc, vợ chồng phải hoà hợp. Mà tín ngưỡng là một vấn đề thiết thân của con người, nếu có sự khác biệt thì dễ có sự xung khắc, đe dọa sự hoà hợp (nhất là khi đứa con ra đời đặt thêm nhiều vấn đề khó giải quyết). Tuy nhiên, Giáo hội cũng không cấm đoán vì hy vọng sự đạo đức của bên này sẽ thánh hoá bên kia. Giáo hội chỉ dè dặt khôn ngoan để bảo đảm cho hạnh phúc vợ chồng được trọn vẹn (1Cr 7,14).

4– Trong những trường hợp nói trên, nếu người ta cứ lấy nhau thì không thành hôn nhân mà chỉ là một sự chung chạ bất hợp pháp. Ngoài những trường hợp ấy, nếu thiếu sự cam kết thực sự của một trong hai bên, cũng không thành hôn nhân. Đó là các trường hợp :

a/ Không biết hôn nhân là gì.

b/ Lấy nhầm người.

c/ Giả vờ cam kết nhưng thực sự không muốn.

d/ Đặt điều kiện, tức là cam kết với điều kiện có quyền ly dị hoặc với điều kiện không bao giờ sinh con (GL 1102).

5– Ngoài ra, đối với người Công giáo, thiếu linh mục có năng quyền chứng hôn hoặc thiếu hai nhân chứng, hôn nhân cũng không thành, trừ khi Đức giám mục giáo phận đã chỉ thị cách khác.

6– Giáo hội có quyền giải tán hôn nhân không?

Thưa, Giáo hội không bao giờ có quyền giải tán những cuộc hôn nhân tròn vẹn. Hôn nhân tròn vẹn là (1) hôn nhân đã thành sự (2) là bí tích (3) vợ chồng đã ăn ở với nhau. Không tròn vẹn là thiếu một trong ba điểm đó.

7– Về hôn nhân không tròn vẹn, Giáo hội có quyền giải tán những trường hợp sau đây:

a/ Hôn nhân giữa hai người Công giáo hoặc một người Công giáo và một người ngoài đã thành sự nhưng chưa ăn ở với nhau.

b/ Hôn nhân giữa hai người chưa được rửa tội, đã thành hôn và ăn ở với nhau, rồi một trong hai người xin được rửa tội mà người kia không cho, hoặc vẫn giữ vợ lẽ. Trường hợp này gọi là “đặc ân thánh Phaolô” theo câu Kinh Thánh trong thư 1Cr 7,15. Hôn nhân này chỉ được giải tán khi người mới theo đạo lấy một người khác (GL 1143-1147).

8– Ngoài ra, có khi Giáo hội công bố một cuộc hôn nhân không thành sự ngay từ đầu vì những trở ngại mà lúc bấy giờ không ai để ý tới, nghĩa là những trở ngại nói trên. Nhưng đó không phải là giải tán, vì cuộc hôn nhân vốn đã không thành sự.

9– Giáo hội không chấp nhận ly dị. Tuy nhiên, trong một số trường hợp có thể cho ly thân (biệt cư biệt sản), nghĩa là hai người không còn sống chung với nhau nhưng vẫn là vợ chồng nên không có quyền kết hôn với người khác (GL 1151-1155). Không có một nghi thức hoặc thủ tục đặc biệt nào của tôn giáo về ly thân, bởi lẽ Giáo hội vẫn hy vọng rằng vì lợi ích của chính mình cũng như của con cái, rồi ra hai người sẽ hoà hợp lại.