Nhảy đến nội dung

21 Chương 21

  • CN, 19/01/2025 - 18:01
  • admin1

Chương 21

Thái Độ Của Tòa Thánh

Việc đức Giám Mục Leiria công nhận những lần Đức Mẹ hiện ra là điều quan trọng nhất đã từng xảy ra tại Cova da Iria từ ngày 13 tháng Mười, 1917. Mọi người khắp thế giới đã cầu nguyện với Đức Mẹ Fátima, lúc này được bảo đảm, theo sự khôn ngoan dè dặt của loài người có thể định đoán, Đức Mẹ đã thực sự hiện ra tại Cova da Iria và niềm tin của họ không sai lầm hoặc bị dối gạt. Đó là điều đức Giám Mục Leiria muốn nói khi tuyên bố những lần Đức Mẹ hiện ra “xứng đáng tin cậy.” Lời phán quyết chính xác của đức Giám Mục Leiria liên quan đến điều đáng tin những lần Đức Mẹ hiện ra không thể cách nào so sánh với một tín điều mà Đức Thánh Cha chính thức công bố về sự kiện thực hoặc về nguyên tắc là điều thuộc về đức tin Công Giáo mà mọi tín hữu phải tuân tin. Đức Giám Mục chỉ có ý nói việc Đức Mẹ hiện ra để hướng dẫn và cảm hóa các linh hồn là sự việc người ta có thể tin. Từ quan điểm này của việc Đức Giám Mục công nhận, những lần Đức Mẹ hiện ra tại Fátima lúc này có cùng căn bản với những lần Đức Mẹ hiện ra tại Lourdes (Lộ-đức).

Tòa Thánh không chủ trương can thiệp trực tiếp và chính thức đưa ra phán quyết liên quan tới việc công nhận bất cứ lần thiên đàng hiện ra nào. Việc chính thức công nhận như vậy để tùy quyền vị Giám Mục địa phương, nơi sự việc xảy ra. Nhưng Tòa Thánh có thể và thường tỏ thái độ rõ ràng đối với những lần thiên đàng hiện ra bằng chính hành động của Tòa Thánh. Tòa Thánh Vatican làm việc này cách đặc biệt qua việc tham gia những phụng vụ quan trọng, nghĩa là, trong những nghi lễ cử hành tại chính nơi có việc hiện ra này. Tòa Thánh cũng làm việc này theo những phương thức khác. Chúng tôi sẽ đề cập tới một số việc được thự hiện tại Roma trong một chương khác. Trong chương này, chúng tôi chỉ kể ra hai trường hợp sau đây.

Một biến cố quan trọng xảy ra tại Fátima ngày 13 tháng Năm, 1946. Việc này tập trung vào tôn vinh Đức Mẹ Fátima là Nữ Vương Portugal (Nước Bồ-đào-nha) và là Nữ Vương Thế Giới. Việc tôn vinh này đáng lẽ được thực hiện khi Thế Chiến thứ hai chấm dứt, nhưng phải hoãn lại tới năm 1946 để việc tôn vinh này đồng thời với kỷ niệm ba trăm năm Vua João IV dâng Portugal (Nước Bồ-đào-nha) cho Đức Mẹ.

Đức Hồng Y Benedetto Masella được Tòa Thánh cử đến Fátima, đại diện Đức Thánh Cha Piô XII tôn vinh Đức Mẹ. Nghi lễ cảm động này gồm có việc làm phép bộ chuông, triều thiên lớn bằng đồng, và thánh giá sáng ngời dựng trên tháp vương cung thánh đường, được cử hành tại Cova da Iria trước sự tham dự của toàn thể Chính Phủ Portugal (Bồ-đào-nha) và hơn sáu trăm ngàn khách hành hương.

Một biến cố phụng vụ quan trọng khác xảy ra vào dịp bế mạc Năm Thánh cử hành tại Cova da Iria ngày 13 tháng Mười năm 1951, trong dịp này Đức Thánh Cha Piô XII bày tỏ lòng tin tưởng của ngài vào những lần Đức Mẹ hiện ra tại Fátima. Lần nữa, Đức Thánh Cha cử đại diện là Đức Hồng Y Federico tham dự cuộc cử mừng quan trọng này. Rõ ràng Đức Thánh Cha đã chọn linh địa tại Bồ-đào-nha làm địa điểm cho phụng vụ bế mạc Năm Thánh trọng đại này, vì ngài muốn tập trung lưu ý tới Đức Mẹ và những thông điệp Đức Mẹ nhắn nhủ tại Fátima, và vì Đức Thánh Cha muốn cho cả thế giới biết điều đó, như chính ngài đã có lần tuyên bố: “thời gian nghi ngờ Fátima đã qua rồi.”

Bế mạc Năm Thánh là dịp tiết lộ, làm cho mọi người sững sờ, cho thấy Đức Thánh Cha rất gần gũi với Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria, và Đức Mẹ hài lòng như thế nào về những việc Đức Thánh Cha đã làm đối với thông điệp của Mẹ tại Fátima. Đức Hồng Y Tedeschini cho mọi người tụ họp tại Fátima hôm đó biết Đức Thánh Cha đã bốn lần chứng kiến phép lạ mặt trời nhảy múa tại Roma trong năm trước. (Đáng tiếc là những bài báo đăng tin sốt dẻo này trong các báo tại Portugal - Bồ-đào-nha -đã tường thuật sai lời tuyên bố của Đức Hồng Y Tedeschini là chính Đức Thánh Cha đã thấy Đức Mẹ. Không có chỗ nào Đức Hồng Y nói như thế.) Dưới đây là phần quan trọng trong bài giảng thuyết của Đức Hồng Y Tadeschini trong Thánh Lễ đại triều tại thánh địa ngày 13 tháng Mười, 1951:

“(Và) tôi nói để quí vị biết - mặc dầu chỉ nhân danh cá nhân tôi - và tôi nói với các bạn hữu Portuguese (Bồ-đào-nha) mới và cũ của tôi, và mọi người hành hương liên kết với các bạn của tôi một việc kỳ diệu hơn nữa.

“Tôi nói cho quí vị biết còn một người nữa cũng được chứng kiến phép lạ này. Năm trước, ngài đã chứng kiến phép lạ này. Ngài đã thấy phép lạ này tại Roma. Chính Đức Thánh Cha Piô XII của chúng ta, đã chứng kiến phép lạ đó.

“Phải chăng đây là một phần thưởng? Phải chăng đây là dấu hiệu Thiên Chúa hài lòng về việc minh định Tín Điều ‘Đức Mẹ Linh Hồn và Xác Lên Trời’? Phải chăng đây là điều thiên đàng làm chứng xác nhận sự liên kết giữa những phép lạ Fátima và Trung Tâm Giáo Hội (Tòa Thánh), vị Nguyên Thủ bảo vệ chân lý và huấn quyền của Giáo Hội Công Giáo, hoặc chung cho cả ba điều?

“Lúc bốn giờ chiều ngày 30 và 31 tháng Mười và ngày 1 tháng Mười Một năm trước (năm 1950) và trong tuần tám ngày của ngày 1 tháng Mười Một năm 1950, ngày công bố Tín Điều Đức Mẹ Linh Hồn và Xác Lên Trời. Từ vườn Tòa Thánh Vatican, Đức Thánh Cha ngước lên nhìn mặt trời và trước mặt ngài là cảnh tượng kỳ lạ của những gì đã xảy ra tại thung lũng này được tiếp diễn.

“Mặt trời giẹp như chiếc đĩa (plate) có hào quang chung quanh. Ai có thể nhìn thẳng vào mặt trời? Nhưng Đức Thánh Cha đã nhìn được! Và trong bốn ngày liên tiếp Ngài đã thấy những hiện tượng đó của mặt trời. Dưới bàn tay Đức Mẹ, mặt trời lay động và hoàn toàn rối loạn, biến dạng thành một hoạt cảnh sống động, trở thành những chuyển động thiên đàng, trở thành những thông điệp không phát ra âm thanh nhưng rõ ràng đối với vị Đại Diện Chúa Kitô.

“Không phải là Fátima dời chỗ sang Roma sao? Không phải Roma biến thành Fátima sao?”

Chỉ ít ngày sau biến cố này, ngày 13 tháng Mười Một, 1951, nhận báo L’Observatore Romano, cơ quan bán chính thức của Toà Thánh Vatican, đã trích từng chữ trong phần bài giảng của Đức Hồng Y Tedeschini. Tờ L’Observatore Romano còn đi xa hơn nữa trong phần bình luận: “Chúng tôi không có nhiệm vụ diễn giải giá trị về những biến cố tương tự như nhau (lần mặt trời nhảy múa tại Fátima và lần Đức Thánh Cha Piô XII chứng kiến), dẫu vậy những can thiệp của Đức Trinh Nữ Rất Thánh thường xảy ra vào những thời kỳ trọng đại nhất trong lịch sử Giáo Hội, ngay cả đến lặp lại sự việc y như vậy trực tiếp cho Đấng kế bị Thánh Phêrô.” Đức Hồng Y Tedeschini tuyên bố rõ ràng ngài thông báo tin tức này “chỉ nhân danh cá nhân ngài thôi.” Nhưng không thể tin Đức Hồng Y Đại Diện, thay mặt Đức Thánh Cha, có thể tiết lộ tin tức đặc biệt như thế trừ khi ngài tuyệt đối biết chắc chắn sự việc, và Đức Thánh Cha đồng ý để ngài Hồng Y nói những việc đó ra. Cũng tương đối khó tin tờ L’Observatore Romano phổ biến câu chuyện như vậy mà không phối kiểm trước và chắc chắn Đức Thánh Cha muốn công bố điều đó.

Bế mạc Năm Thánh Kéo Dài (1950-1951) là một biến cố lịch sử. Vào thời gian đó, Đức Giám Mục Fulton J. Sheen (Hoa-kỳ) có mặt tại Fátima, và sau đây là một vài nhận xét của ngài Giám Mục liên quan đến ý nghĩa những nghi lễ cử hành tại Cova da Iria ngày 12 và 13 tháng Mười, 1951:

“Ngày 13 tháng Mười, 1917, trời mưa như trút khi Đức Trinh Nữ hiện ra tại Fátima. Mọi người mong mưa rơi xuống như dấu hiệu ơn lành Chúa ban. Mưa đã rơi trên sáu trăm ngàn người vào ngày 12 tháng Mười (1951). Hầu hết những người này đã đứng cầu nguyện suốt đêm. Chỉ có ít giọt rơi trên một triệu người tụ họp ngày 13 tháng Mười (1951), nhưng bấy nhiêu đủ tiêu biểu cho ân sủng. Bùn lầy không ảnh hưởng gì đến việc cầu nguyện; mưa thường làm ướt thể xác cũng như tinh thần. Nhưng đối với những người hành hương sốt sắng, bùn và mưa đều là những cơ hội hy sinh nguyện cầu cho hòa bình thế giới.

“Fátima nhỏ bé nhất trong các thị trấn trên thế giới, nhưng vượt trên hết các đô thị khác, Fátima trở thành sức mạnh thắng chủ nghĩa Cộng Sản. Công Trường Đỏ đầy vũ khí, tràn ngập cờ đỏ nhuộm máu các nạn nhân của chủ nghĩa Cộng Sản. Công Trường Trắng Fátima với một triệu khăn tay trắng vẫy lên trìu mến đón chào Đức Mẹ Trắng trong hòa bình.

“Moscow (Mạc-tư-khoa) có mười lăm triệu quân; Fátima, ngày 13 tháng Mười (1951) có một triệu tín đồ trang bị bằng chuỗi Mân Côi. Theo cán cân công lý thần linh, người ta có cảm tưởng những hạt nhỏ đếm kinh Kính Mừng đã thắng Stalin và vũ khí của ông ta. Chủ nghĩa Cộng Sản bị đánh bại vào ngày 13 tháng Mười, 1951, nhưng tin tức chưa được tiết lộ.

“Một triệu linh hồn thống hối chắc chắn có thể làm cho thế giới điều mà chỉ cần mười người đủ cứu hai thành Sodom và Gomorha.

“Chủ thuyết Cộng Sản là một niềm tin, và chủ nghĩa này chỉ có thể bị khắc phục bởi một niềm tin. Các cường quốc có thể ngăn chận chế độ Cộng Sản xâm lăng, nhưng không thể ngăn cản được chủ nghĩa Cộng Sản. Fátima là mũi tấn công vào sườn chủ nghĩa Cộng Sản qua việc ăn năn thống hối và hy sinh. Mỗi người trên thế giới đều cần một cái giường để ngủ qua đêm; tại Fátima mỗi người chỉ cần chuỗi Mân Côi. Những triệu kinh Mân Côi mà người ta kính cẩn dâng lên suốt đêm có sức mạnh gấp bội những viên đạn chinh phục của Cộng Sản.

“Stalin có lần chế nhạo nói: ‘Giáo Hoàng có bao nhiêu sư đoàn quân?’ Câu trả lời được đưa ra tại Fátima: ‘Một triệu.’ Mỗi người tín hữu Fátima được trang bị năm mươi khối chất nổ yêu thương.

“Stalin tuyên bố ông ta muốn hòa bình. Ông ta ám chỉ một phần đất Trung Hoa, một phần đất Ba-lan, một phần Triều-tiên. Fátima cũng muốn hòa bình, nhưng Fátima biết hòa bình chỉ đến được khi loài người tuyên chiến với địch quân hung hãn nhất: lòng ích kỷ, hận thù và tội lỗi. Trong đêm 12 tháng Mười (1951), hàng trăm ngàn người, nam nữ, đã tham gia trận chiến chống lại những gì là vô thần, và sáng hôm sau người ta nhận biết rằng Thiên Chúa đã toàn thắng.

“Ngày 13 tháng Mười, 1917, khi Đức Mẹ hiện ra tại Fátima, chủ nghĩa Cộng Sản vừa mới bắt đầu len lỏi vào những nơi hiểm yếu của thế giới. Ba mươi bốn năm nữa, chủ nghĩa Cộng Sản sẽ không còn. Điều sẽ biến mất là nhà độc tài đỏ không còn duyệt binh tại Công Trường Đỏ. Điều sẽ hồi sinh là Đức Mẹ Kremlin duyệt đoàn quân Đạo Binh Đức Mẹ tại Công Trường Trắng. Và khi các sử gia duyệt lại biến cố đã làm đảo lộn thế giới, đem lại hòa bình và thịnh vượng, người ta sẽ thấy đó không phải là một trận chiến, nhưng là lời cầu nguyện, không phải một ngày, nhưng một đêm, một đêm mưa tầm tã 12 tháng Mười (1951), biến cố tôn giáo vĩ đại nhất trong lịch sử cận đại.

“Sinh hoạt càng giống như tại Fátima ngày 12 và 13 tháng Mười (1951), hòa bình càng mau tới và nước Nga sẽ trở lại càng sớm.”