Nhảy đến nội dung

24 Chương 24

  • CN, 19/01/2025 - 18:03
  • admin1

Chương 24

Ngày 13 Tháng Năm, 1982

Hành động cộng đồng long trọng dâng hiến cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria, mà các giám mục toàn thế giới cộng tác tích cực, rõ ràng là một vấn đề rất quan trọng. Sự việc này hết sức lớn lao vì Giáo Hội không áp đặt niềm tin vào những lần Chúa hoặc Đức Mẹ hiện ra trên bất cứ một thành viên nào. Một tín hữu Công Giáo không buộc phải chấp nhận sự việc Chúa hoặc Đức Mẹ hiện ra, người tín hữu cũng không buộc phải chấp nhận thông điệp (được coi là) đưa ra trong lần hiện ra đó. Điều có ý nghĩa là khi công nhận những lần Đức Mẹ hiện ra tại Fátima, Đức Giám Mục Leiria đã không hề đề cập tới thông điệp Fátima. Tài liệu đưa ra ngày 13 tháng Mười, 1930, ngài chỉ tuyên bố cho rằng “những thị kiến các bé mục tử được thấy tại Cova da Iria là đáng tin” và “chính thức cho phép việc sùng kính Đức Mẹ Fátima.” Vì vậy, chúng ta không trông đợi Đức Thánh Cha ép các giám mục khắp thế giới tích cực kết hợp với ngài trong hành động hiến dâng chỉ vì Đức Mẹ đã yêu cầu việc này tại Fátima.

Nhưng Chúa sẽ không bị cản trở trong các chương trình của Ngài. Để vượt qua vấn đề nêu trên, Chúa đã làm nhiều việc. Trước nhất, Chúa thúc đẩy Đạo Binh Xanh đưa ra quyết định quan trọng ngày 10 tháng Mười Hai, 1974, tại Pontevedra, Spain (Tây-ban-nha), tại chính tu viện Thánh Dorothy, nơi Đức Mẹ đã cho chị Lúcia công thức hiến dâng có sự tích cực tham gia của toàn thể giám mục khắp thế giới cùng với Đức Thánh Cha. Quyết định được đưa ra trong Hội Nghị cao cấp liên quan đến việc thực hiện nỗ lực quảng đại nhắm đạt được việc hiến dâng mong mỏi này. Tất cả các nỗ lực trước đều có tính cách riêng tư và kín đáo. Nỗ lực lần này, được quyết định, qua một vị Hồng Y, đạo đạt lên Đức Thánh Cha, xin Đức Thánh Cha thực hiện việc dâng hiến cùng với toàn thể giám mục thế giới vào năm 1975. Nỗ lực này cũng quyết định tìm kiếm những ủng hộ việc thỉnh nguyện từ các tầng lớp căn bản trong Giáo Hội ố các giáo dân. Đức Hồng Hy Joseph Slipyj, đã sống tám năm trong trại tù Seberia, đã trình thỉnh nguyện lên Đức Thánh Cha Phaolô VI vào tháng Năm, 1975.

Qua Đức Hồng Y Slipyj, Đạo Binh Xanh tìm kiếm hai điều: 1) Đức Thánh Cha, cùng với tất cả các giám mục toàn cầu, long trọng dâng hiến thế giới cho Trái Tim Cực Thánh Chúa Giêsu, ngày 6 tháng Sáu; 2) Đức Thánh Cha, cùng với các giám mục toàn cầu, long trọng dâng hiến nước Nga cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria vào ngày 7 tháng Sáu, ngày lễ Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Đức Mẹ.

Đức Thánh Cha không được thỉnh cầu sớm đủ để cho phép hai việc dâng hiến này được thực hiện vào những ngày xin. Tuy vậy, đến ngày 6 tháng Sáu, hơn nửa triệu lá thơ từ khắp thế giới tới tấp bay về Vatican ủng hộ thỉnh cầu Đức Hồng Y Slipj đã trình lên Đức Thánh Cha.

Đạo Binh Xanh, được Đức Hồng Y Slipyj khuyến khích, đã đệ trình một thỉnh nguyện khác lên Đức Thánh Cha, xin ngài cùng với các giám mục khắp thế giới thực hiện cả hai việc dâng hiến cho hai Thánh Tâm vào Chúa Nhật, 23 tháng Mười Một, lễ Chúa Kitô Vua, cũng năm đó. Vào thời gian này, thỉnh cầu này được hai triệu lá thư từ khắp thế giới ủng hộ. Tuy nhiên, như chúng ta biết, việc đó không được thực hiện. Có vẻ như Đức Phaolô VI không có đủ thì giờ để quyết định và kết luận công việc sơ khởi tương đối cần thiết trước khi ngài có thể cùng với các giám mục toàn thế giới thực hiện việc cộng đồng và long trọng dâng hiến nước Nga như Đức Mẹ yêu cầu.

Một năm sau khóa họp đầu tiên, ngày 10 tháng Mười Hai, 1975, cũng chính các lãnh tụ tông đồ trong ủy ban Fátima từ khắp thế giới lại nhóm họp tại Pontevedra để kiểm điểm thành quả, và quyết định những tiến bước sẽ thực hiện trong tương lai. Cũng nên ghi chú là đa số trong hai triệu lá thư thỉnh cầu đã xuất xứ từ Hoa Kỳ, và ủy ban quyết định gia tăng số thư thỉnh cầu việc này được xuất phát từ khắp nơi trên thế giới, vì theo lời Đức Mẹ yêu cầu, hành động dâng hiến phải có sự góp phần của các giám mục toàn cầu. Nỗ lực đạt được thỉnh nguyện thư từ mọi quốc gia khắp thế giới hẳn cũng có hiệu lực làm cho Giáo Hội khắp hoàn cầu biết đến việc hiến dâng này và tại sao việc đó phải được thực hiện.

Về sau, mọi người được đề nghị gởi thỉnh nguyện thơ tới các Giám Mục địa phương để các vị chủ chăn biết cảm nghĩ cá nhân của họ về vấn đề quan trọng này. Các Giám Mục địa phương biết số lớn giáo dân thuộc giáo phận của mình đứng sau đề nghị dâng hiến này nói lên mạnh mẽ với các ngài, có ảnh hưởng tới việc các ngài quyết định và hành động. “Ý dân là ý Trời,” là sự thật từ ngàn xưa và các giám mục, ngay cả Đức Thánh Cha, phải lưu tâm tới. Chúa Thánh Thần nói với Giáo Hội qua giáo dân cũng như qua hàng giáo phẩm.

Chúa không những chỉ thúc đẩy Đạo Binh Xanh thực hiện một nỗ lực cộng đồng phi thường để đạt được việc Giáo Hội dâng hiến nước Nga cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria, mà chỉ vài năm sau đó, Chúa còn ban cho Giáo Hội Vị Giáo Hoàng mà gốc gác của ngài đã được an bài cho ngài thực hiện viện hiến dâng được mong đợi từ lâu. Việc chọn bầu Đức Gioan Phaolô II năm 1978 làm tăng lên hy vọng việc dâng hiến nước Nga chắc không còn xa nữa. Như đã nói trong Exciting Fátima News của chúng tôi, ấn bản năm 1979:

“Hẳn chúng ta được khích lệ vô cùng lớn lao trong nỗ lực toàn cầu thỉnh nguyện qua Đức Tân Giáo Hoàng mà Thiên Chúa đã ban cho Giáo Hội của Ngài. Không những Đức Gioan Phaolô II đã không ngừng đưa Đức Mẹ Maria vào thông điệp chung, bắt đầu từ chính thông điệp đầu tiên ngài đọc tại bao lơn Tòa Thánh Phêrô ngay sau khi đắc cử, mà cả lần Đức Gioan Phaolô II viếng thánh địa Đức Mẹ Guadalupe ở Mexico là bằng chứng cho cả thế giới biết thái độ của ngài đối với những lần Đức Mẹ hiện ra. Một yếu tố rất có ý nghĩa là Đức Gioan Phaolô II xuất thân từ một quốc gia có lòng kính mến Mẹ Thiên Chúa cách đặc biệt và nơi có linh địa Mẹ Maria tại Czestochowa đã từng đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc ấp ủ dưỡng nuôi và cổ võ lòng mến yêu Mẹ Maria.

Sự kiện có ý nghĩa và khích lệ hơn nữa là hàng giáo phẩm Ba-lan, vào thời gian Đức Gioan Phaolô II là thành viên, đã công khai bày tỏ công nhận hành động cộng đồng dâng hiến lên Đức Mẹ Maria bằng cách làm thi hành chính việc đó, và đã có lần công khai xin Đức Thánh Cha Phaolô VI thực hiện việc Giáo Hội dâng hiến như Đức Mẹ yêu cầu. Không một hàng giáo phẩm nào trên thế giới đã tỏ ra công khai cởi mở đối với việc dâng hiến giáo phận, quốc gia và thế giới cho Mẹ Maria bằng hàng giáo phẩm Ba-lan.

Hẳn bây giờ là lúc Thiên Chúa chọn cho việc dâng hiến này. Chúng ta phải học nhiều dấu chỉ thời đại, và có vẻ như không phải chỉ là trùng hợp ngẫu nhiên, Đạo Binh Xanh được ơn thúc giục vận động cộng đồng hoàn vũ (trong quá khứ, chúng ta thấy nhiều cuộc vận động cao cấp kín đáo nếu không nói là âm thầm đã được thực hiện nhưng không kết quả), những nỗ lực công khai và có tổ chức nhắm đạt được việc hiến dâng này đã xảy ra ngay trước khi Thiên Chúa ban cho Giáo Hội vị Giáo Hoàng gốc Ba-lan đầu tiên. Mọi người đều đồng ý việc cử Đức Gioan Phaolô II rõ ràng là việc Chúa Thánh Thần làm.

Ân sủng bồi đắp trên vạn vật tự nhiên, vì trong chương trình của Chúa, các ân sủng luôn luôn được chủ định đi với nhau và hành sự như một. Thiên Chúa dùng và làm cho bản chất và các hoàn cảnh của loài người trở thành chương trình của Chúa cho Giáo Hội của Ngài. Hỏi vị Giáo Hoàng nào có thể cởi mở hơn, bén nhạy hơn đối với nhu cầu phải thực hiện việc dâng hiến này hơn vị Giáo Hoàng đã từng sinh sống dưới ách Cộng Sản, dưới bóng tối sức mạnh và quyền lực kinh hoàng của Cộng Sản, vị Giáo Hoàng nào đã từng giữ chức vụ cao như ngài trong hàng giáo phẩm Ba-lan và đã làm việc trực tiếp với những người Cộng Sản cao cấp? Chúng ta tin chắc Đức Gioan Phaolô II có kiến thức sâu sắc về mối đe dọa của Cộng Sản đối với Giáo Hội và thế giới mà chỉ có kinh nghiệm bản thân mới có thể có được. Và Đức Gioan Phaolô II cũng hiểu biết như vậy về sự bảo trợ và quyền năng của Đức Mẹ, chính ngài đã chứng kiến tường tận những việc Đức Mẹ làm cho Giáo Hội Công Giáo và quê hương ngài. Có lẽ không một quốc gia nào đức tin lại mạnh mẽ và sáng chói như Ba-lan ngày nay.”

Sự kiện thứ ba Chúa đã dùng, nhưng chắc Chúa không xúi giục, là vụ mưu sát Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II tại quảng trường Thánh Phêrô, Roma, ngày 13 tháng Năm 1981. Đức Thánh Cha chị bị thương chứ không chết (ngài bị một tay sát nhân nhà nghề bắn ba lần ở tầm rất gần). Tai nạn xảy ra khi Đức Thánh Cha đang cầu xin sự bảo trợ đặc biệt nơi Đức Mẹ Fátima, trong ngày kỷ niệm lần thứ nhất Đức Mẹ hiện ra với ba bé mục tử. Người ta nói nếu phải mất thêm năm phút mới tới bệnh viện, hẳn Đức Thánh Cha ra hết máu mà chết, thực sự đã mất khoảng hai mươi lăm phút, hơn nữa, nếu một trong những viên đạn đó vào sát bộ phận xung yếu chỉ thêm một phân (centimètre) nữa, hẳn cũng đã làm Đức Thánh Cha thiệt mạng. Như chính ngài đã nói trong buổi gặp chung (triều yết) ngày thứ Tư, năm tháng sau ngày bị bắn:

“Và lần nữa cha lại mang ơn Đức Trinh Nữ và tất cả các thánh quan thầy. Làm sao cha quên được biến cố tại quảng trường Thánh Phêrô đã xảy ra trong ngày và giờ Mẹ Chúa Kitô lần đầu tiên hiện ra với ba bé quê nghèo đã từng được nhớ đến trong hơn sáu mươi năm tại Fátima, Portugal? Vì, trong mọi việc xảy ra cho cha trong chính ngày hôm đó, cha cảm thấy được sự bảo vệ và săn sóc của tình Mẫu Tử, sự bảo vệ và săn sóc này mạnh hơn những viên đạn giết người.”

Việc Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II dưỡng bệnh lâu ngày tại bệnh viện có vẻ như được Chúa dùng giúp đem lại việc Giáo Hội hiến dâng nước Nga. Ông John M. Haffert, trong tờ Soul, tờ báo chính thức của Đạo Binh Xanh Hoa Kỳ và Canada, số xuất bản tháng Mười Một-Mười Hai, 1981, đã chia sẻ tin tức “hậu trường” sau đây. Ông John nói: khi ở Roma ngày 2 tháng Chín, 1981, ông ấy gặp Đức Thánh Cha và được ngài chúc lành. Chỉ trước đó ít lâu, dì phước Mary Ludovica, bí thư Đạo Binh Xanh Italia, nhận được điện văn do ông Policlinio Gemelli nói Đức Thánh Cha cần “tài liệu Fátima.” Chị Mary Ludovica trao cho ông Gemelli cuốn Memorias e Cartas de Irmã Lúcia (những Hồi Ký của chị Lúcia). Ngày 1 tháng Chín, 1981, chị Ludovica được Đức Thánh Cha gọi tới và được lệnh khăn gói lên đường đi Fátima ngay trong tuần đó để gặp Đức Giám Mục John P. Venancia, đã về hưu. Hiển nhiên ông Haffert nhận được mọi tin tức này từ chị Ludovica, vì ông nói: “Chị ấy không thể chia sẻ với tôi những gì Đức Thánh Cha đã nói với chị ấy, mà chị ấy chỉ lặp đi lặp lại: “Một tin mừng! Một tin mừng!”

Những việc xảy ra sau đó có vẻ như cho thấy sứ mệnh của chị Ludovica liên quan tới việc Giáo Hội dâng hiến nước Nga cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria. Thực vậy, trong tháng Tư, 1982, một bức thư về việc dâng hiến này đã được Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, qua Đức Hồng Y Agostino Casaroli, Bí Thư Tòa Thánh, gởi tới tất cả các giám mục toàn cầu.

Trước khi thảo luận bức thư này, cần ghi chú về yếu tố cuối cùng chỉ vừa mới được công bố mà hình như ảnh hưởng tới bức thư này và nội dung của nó. Số báo Soul tháng Năm-Sáu, 1982, trong bài tựa đề: “Phải chăng việc Giáo Hội dâng hiến nước Nga đã hoàn tất?” có câu: “Chính Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã thấy một hiện tượng lạ (nhấn mạnh) trong năm trước (1981) sau vụ mưu sát ngài. Chúng tôi chờ được phép loan báo.” Bài báo có lời tuyên bố này ám chỉ hiện tượng là có ảnh hưởng đối với hành động dâng hiến, mà thư của Đức Thánh Cha đề cập tới việc này.

Đức Hồng Y Casaroli gởi bản dịch Anh ngữ thư này tới các Giám Mục Hoa-kỳ đề ngày 19 tháng Tư, 1982. Trọng điểm của bức thư là Đức Thánh Cha dự định thực hiện việc Giáo Hội hiến dâng tại Fátima dịp ngài thăm viếng thánh địa ngày 13 tháng Năm, 1982.

Trong câu mở đầu đoạn thứ nhất nói Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã nhận được thư từ “nhiều Giám Mục” và “một số Hội Đồng Giám Mục ... nhắc nhớ thông điệp Fátima và thỉnh cầu Đức Thánh Cha canh tân hành động toàn Giáo Hội (nhấn mạnh) dâng hiến cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria đã được Đức Thánh Cha Piô XII thực hiện ngày 31 tháng Mười, 1942, và ngày 7 tháng Bảy, 1952” bản sao văn kiện đính kèm.

Trong đoạn hai, bức thư ghi lại việc Đức Thánh Cha Phaolô VI đã làm ngày 21 tháng Mười Một, 1964, lặp lại việc dâng hiến mà Đức Thánh Cha Piô XII đã làm ngày 31 tháng Mười, 1942, và việc Đức Gioan Phaolô II rõ ràng nhắc tới cả hai việc dâng hiến nói trên trong ngày đại lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống và đại lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội năm 1981.

Đoạn thứ ba quan trọng hơn cả, các Giám Mục được thông báo dịp Đức Thánh Cha viếng thăm Fátima, ngày 13 tháng Năm, 1982, ngài sẽ tạ ơn Đức Trinh Nữ đã gìn giữ mạng sống của ngài khi bị mưu sát ngày 13 tháng Năm, 1981, Đức Thánh Cha cũng có ý định, kết hợp trong tinh thần với các Giám Mục toàn thế giới (nhấn mạnh) canh tân hai hành động Đức Giáo Hoàng Piô XII đã ký thác thế giới cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria.

Khi chúng ta suy xét những lời chính yếu trong thư, lời lẽ hùng hồn và chắc chắn được chọn lựa hết sức cẩn thận, nhất là nội dung hai lời dâng hiến Đức Thánh Cha Piô XII đã thực hiện, bản sao các văn kiện này gởi kèm theo bức thư để giúp các Giám Mục nhớ lại và biết chính xác điều Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II định làm, hẳn không thể hồ nghi Đức Thánh Cha muốn đáp ứng đúng lời yêu cầu mà Đức Mẹ đưa ra tại Pontevedra ngày 13 tháng Sáu, 1929. Cũng chắc chắn Đức Thánh Cha đã nhận đủ số thư cho ngài hy vọng có đủ số Giám Mục thế giới đáp ứng thuận lợi lời Đức Thánh Cha mời các Giám Mục liên kết với ngài trong hành động dâng hiến ngày 13 tháng Năm, 1982. Tôi (tức là ông Haffert) có hỏi một vị Giám Mục có phải ngài hiểu bức thư Đức Thánh Cha gởi, qua Đức Hồng Y Casaroli, đưa ra lời yêu cầu như thế không. Vị Giám Mục này trả lời không chút lưỡng lự là ngài hiểu phải làm như thế.

Đoạn mở đầu thơ ngày 19 tháng Tư, 1982, ca ngợi nỗ lực lớn lao của Đạo Binh Xanh thúc đẩy mọi người gởi thỉnh nguyện thư lên Đức Thánh Cha và các Giám Mục địa phương. Những thư này chắc chắn giữ vai trò quan trọng trong việc làm cho “nhiều Giám Mục và một số Hội Đồng Giám Mục” gởi thư xin Đức Thánh Cha thực hiện việc toàn thể Giáo Hội dâng hiến. Riêng Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ trong dịp Đại Hội tháng Mười Một, 1981, đã gởi thỉnh nguyện thư tới Roma xin Đức Thánh Cha thực hiện việc dâng hiến này.

Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã tham gia đêm canh thức cầu nguyện tổ chức theo truyền thống tại Cova da Iria đêm áp những ngày kỷ niệm sáu lần Đức Mẹ hiện ra. Ngày 13 tháng Năm (1982), Đức Thánh Cha chủ tọa phụng vụ tiếp sau cuộc rước tượng Đức Mẹ Fátima (tượng đầu tiên, ngày 13 tháng Năm, 1920, đặt trong nhà nguyện nhỏ nơi cây sồi Đức Mẹ hiện ra) được cung nghinh từ nhà nguyện nhỏ tới thềm vương cung thánh đường Đức Mẹ Fátima. Tại đây Thánh Lễ được cử hành, với một số đông linh mục và giám mục đồng tế, có sự hiện diện của chị Lúcia và hơn một triệu tín hữu hành hương. Đức Thánh Cha yêu cầu chị Lúcia có mặt và chị đã từ dòng Carmel Thánh Giuse, ở Coimbra, đến Fátima. (Ngày 25 tháng Ba, 1948, chị đã rời khỏi dòng Thánh Dorothy để gia nhập dòng các nữ tu Carmel nghiêm ngặt hơn). Đây là lần thứ ba chị về thăm Fátima từ khi rời khỏi nhà năm 1921 đến trường học ở Vilar. Lần thứ nhất chị về thăm Fátima năm 1946, nhân dịp tôn vinh Đức Mẹ Fátima là Nữ Vương Bồ-đào-nha và Nữ Vương thế giới ngày 13 tháng Năm, 1946. Lần thứ hai vào năm 1967, khi Đức Thánh Cha Phaolô VI tham dự lễ kỷ niệm năm mươi năm Đức Mẹ hiện ra. Ngày hôm đó năm 1967, từ thềm cao đền thờ, Đức Thánh Cha giới thiệu Đức Giám Mục John P. Venancio của Fátima, đứng bên phải, và chị Lúcia ở bên trái, với đám đông vô vàn đứng chật cứng khắp sân rộng trước đền thờ.

Ngày 13 tháng Năm, 1982, chị Lúcia đứng trên thềm cao này với Đức Thánh Ch Gioan Phaolô II suốt Thánh Lễ ban sáng và kiệu Thánh Thể Chúa cho bệnh nhân tiếp liền sau đó. Đức Thánh Cha thuyết giảng một bài Phúc Âm ý nghĩa cao siêu đáng ghi nhớ. Trong một phần quan trọng của bài giảng này liên quan đến việc hiến dâng cho Mẹ Maria, Đức Thánh Cha nhắc lại rõ ràng những điều Đức Piô XII đã thực hiện: “Ngài đã hiến dâng loài người, cách đặc biệt dân tộc Nga cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria.” Phần này trong bài giảng của Đức Gioan Phaolô II hiển nhiên chuẩn bị cho chính việc hiến dâng cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Đức Mẹ mà ngài sẽ thực hiện. Dưới đây là trọn vẹn lời hiến dâng Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã đọc trong phần hiến dâng vào cuối Thánh Lễ. Những phần chúng tôi nhấn mạnh bằng chữ nghiêng là có ý làm sáng tỏ Đức Thánh Cha chủ định việc ngài dâng hiến cũng là của chung cả Giáo Hội, và nước Nga được kể ra cách đặc biệt, mặc dầu kín đáo:

1. “Lạy Mẹ Rất Thánh của Thiên Chúa, chúng con cầu khẩn Mẹ che chở.” Lạy Mẹ, khi chúng con thốt lên những lời của bài ca tụng này mà Giáo Hội Chúa Kitô đã liên tiếp dâng lên hằng bao nhiêu thế kỷ nay, chính con đây, tại chính nơi Mẹ đã chọn và thương yêu. Con có mặt tại đây, kết hợp với tất cả các vị chủ chăn của Giáo Hội trong mối dây liên kết, do đó chúng con lập thành một cộng đồng, một đoàn chiên như chính Chúa Kitô đã ao ước các tông đồ kết hợp với Phêrô.

Trong mối liên kết hợp nhất này, con thốt lên những lời hiến dâng này bây giờ, trong lời dâng hiến này con ao ước bao gồm một lần nữa những hy vọng, những lo âu của Giáo Hội trong thế giới tân tiến ngày nay.

Bốn mươi năm trước và lần nữa mười năm sau, tôi tớ của Mẹ, Đức Thánh Cha Piô XII, có trước mặt ngài nỗi đau khổ của cả nhân loại, đã ký thác và hiến dâng cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội của Mẹ toàn thể thế giới, đặc biệt dân tộc mà Mẹ có lòng yêu thương và quan tâm cách riêng.

Ngày hôm nay con cũng có trước mắt con thế giới này gồm những cá nhân và những quốc gia, con lặp lại việc ký thác và hiến dâng đã được Đấng Tiền Nhiệm Kế Vị Thánh Phêrô của con thực hành: thế giới của ngàn năm thứ hai, thế giới của chúng con, thế giới đương đại này đang đi dần tới phần cuối.

Giáo Hội tuân theo lời Chúa: “Các con hãy đi ... và làm tông đồ muôn dân ... và các con biết rằng Thầy luôn luôn ở với các con, cho tới tận cùng thời gian” (Matthêu 28:19-20), đã được canh tân, tại Công Đồng Vatican II, ý thức nhiệm vụ của mình ở trần thế.

Và vì vậy, lạy Mẹ mọi cá nhân và các dân tộc, chính Mẹ “biết tất cả mọi nỗi thống khổ và hy vọng của họ,” chính Mẹ có lòng ân cần lo âu của hiền mẫu về tất cả mọi đấu tranh giữa thiện và ác, giữa sự sáng và bóng tối, những việc thế giới ngày nay phải đau khổ, xin Mẹ hãy nhận những lời thống thiết mà chúng con, được Chúa Thánh Thần thúc giục, trực tiếp dâng lên Trái Tim Mẹ. Xin Mẹ, bằng tình yêu thương hiền mẫu và nữ tì của Chúa, hãy bảo bọc thế giới loài người của Mẹ, mà chúng con ký thác và hiến dâng cho Mẹ, vì chúng con hết lòng băn khoăn lo lắng đối với số phận trần thế và đời đời của mọi cá nhân và mọi dân tộc.

Cách riêng chúng con ký thác và hiến dâng cho Mẹ những cá nhân và dân tộc cần được ký thác và hiến dâng.

Chúng con cầu khẩn Mẹ che chở, lạy Mẹ Thiên Chúa. Xin Mẹ đừng khước từ lời cầu xin chúng con dâng lên Mẹ trong những cơn ngặt nghèo của chúng con!

Xin Mẹ đừng khước từ những lời chúng con xin!

Xin Mẹ hãy nhận lòng ký thác khiêm tốn, và hành động ký thác này của chúng con!

2. “Vì Thiên Chúa hết sức yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một của Ngài, để những kẻ nào tin vào Con Thiên Chúa sẽ không bị hư mất mà được sống vĩnh cửu.” (Gioan 3:16).

Chính vì tình yêu thương này mà Con Thiên Chúa đã hiến dâng chính Mình cho nhân loại: “Và vì nhân loại, Con dâng hiến chính Con, để chúng cũng được hiến dâng trong Chân Lý” (Gioan 17:19).

Do việc hiến dâng đó các Môn Đệ gồm đủ mọi hạng tuổi được kêu gọi hy sinh cho công cuộc cứu độ thế gian và gánh đỡ những lo âu của Chúa Kitô vì Nhiệm Thể của Ngài là Giáo Hội (Corintians 12:15. Colossians 1:24).

Trước mặt Mẹ, lạy Mẹ Thiên Chúa, trước Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội của Mẹ, ngày hôm nay con, cùng với toàn thể Giáo Hội, kết hợp con với Đấng Cứu Chuộc chúng con trong sự hiến dâng của Ngài cho thế giới và cho nhân loại, mà chỉ có Trái Tim Chí Thánh của Ngài mới có đủ quyền năng xin được tha thứ và bảo đảm đền bù.

Sức mạnh của việc dâng hiến này tồn tại đến muôn đời và bao bọc mọi cá nhân, mọi dân tộc và mọi quốc gia. Sức mạnh của sự hiến dâng này chiến thắng mọi sự dữ mà tinh thần của sự tối tăm là ma quỉ có thể xúi giục, và thực sự đã khơi dậy trong thời đại chúng con, trong tâm trí và lịch sử loài người.

Nhờ Chúa Cứu Thế của chúng con, Giáo Hội, nhiệm thể Chúa Kitô, liên kết với nhau qua công việc của người kế vị Thánh Phêrô với việc hiến dâng này.

Ôi, con cảm thấy sâu sắc biết bao nhu cầu phải dâng hiến loài người và thế giới, thế giới tân tiến ngày nay của chúng con, trong sự hợp nhất với chính Chúa Kitô! Thực vậy, công cuộc cứu chuộc của Chúa phải được chia sẻ trong thế giới này qua Giáo Hội.

Ôi, chúng con đau khổ biết chừng nào vì những điều xảy ra trong Giáo Hội và nơi mọi người chúng con đã đối nghịch với sự thánh thiện và việc hiến dâng. Chúng con đau khổ biết bao vì những lời kêu gọi ăn năn thống hối, cải hóa, cầu nguyện đã không được thuận thảo đáp lại như lẽ ra phải được!

Chúng con đau khổ biết bao vì nhiều người lạnh nhạt với công cuộc cứu độ của Chúa Kitô, mà “sự ưu phiền của Chúa bị lãng quên” được hoàn tất quá thiếu sót trong thân xác chúng con!

Ôi, lạy Mẹ, và vì vậy, hồng phúc biết bao cho những tâm hồn vâng theo tiếng gọi tình yêu vĩnh cửu! Hạnh phúc biết bao cho những ai, ngày ngày, với lòng quảng đại không suy giảm đã vâng nghe lời Mẹ kêu mời thi hành những điều Chúa Giêsu dạy (Gioan 2:5) và đem lại cho Giáo Hội và cho thế giới chứng tích êm ái về những cuộc sống được Phúc Âm soi dẫn!

Hơn hết thảy, hạnh phúc thay, lạy Mẹ, Nữ Tì của Thiên Chúa, Mẹ luôn luôn vâng theo lời Chúa mời gọi!

Kính mừng Mẹ, Đấng hoàn toàn kết hiệp với công cuộc tận hiến cứu chuộc của Con Mẹ!

Lạy Mẹ Giáo Hội, xin Mẹ soi dẫn dân Chúa đi đường đức Tin, đức Cậy và đức Mến!

Xin Mẹ giúp chúng con sống với chân lý hiến dâng trọn vẹn cho Chúa Kitô thay cho toàn thể gia đình nhân loại trong thế giới ngày nay.

3. Lạy Mẹ, khi ký thác cho Mẹ thế giới, mọi cá nhân và mọi quốc gia, chúng con cũng ký thác cho Mẹ chính việc dâng hiến này, vì thương thế giới, xin Mẹ đặt thế giới này trong Trái Tim Hiền Mẫu của Mẹ. Lạy Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội, xin giúp chúng con chiến thắng mưu kế ma quỉ, những mưu kế này rất dễ bám vào trái tim nhân loại ngày nay, và những hậu quả khôn lường của nó đã đè nặng trên thế giới đương đại này và dường như chặn mất nẻo về tương lai.

Lạy Mẹ, xin cứu chúng con khỏi đói khát và chiến tranh.

Xin Mẹ cứu chúng con khỏi chiến tranh nguyên tử, khỏi sự hủy diệt khôn lường, khỏi mọi hình thức chiến tranh.

Xin Mẹ cứu chúng con khỏi tội ác phạm đến mạng sống con người ngay từ lúc khởi đầu.

Xin Mẹ cứu chúng con khỏi lòng thù hận và khỏi việc làm mất phẩm giá con cái Chúa.

Xin Mẹ cứu chúng con khỏi mọi loại bất công trong đời sống xã hội, cả ở lãnh vực quốc gia và quốc tế.

Xin Mẹ cứu chúng con khỏi tội sẵn sàng chà đạp các giới răn của Chúa.

Xin Mẹ cứu chúng con khỏi những mưu toan làm cho trái tim nhân loại chai đá trước chân lý của Chúa.

Xin Mẹ cứu chúng con khỏi những tội phạm đến Chúa Thánh Thần.

Lạy Mẹ Chúa Kitô, xin Mẹ nhận lời kêu van chất nặng những thống khổ của mọi cá nhân, chồng chất những đau khổ của toàn thể xã hội.

Ước gì quyền năng vô biên của tình yêu xót thương lần nữa tỏ ra trong lịch sử thế giới. Ước gì quyền năng vô biên đó chận đứng sự dữ, cải đổi lương tâm mọi người. Ước gì ánh sáng hy vọng nơi Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội của Mẹ được tỏ ra cho mọi người ...

Tầm quan trọng của việc Đức Thánh Cha Phaolô II liên kết với việc dâng hiến của toàn thể cộng đồng Giáo Hội (các Giám Mục toàn thế giới) có thể nhận thấy từ sự kiện: ngày 26 tháng Sáu, 1982, ngài tiếp Hội Đồng Hồng Y tại Roma và mời gọi các Hồng Y tham gia với ngài trong tính cách toàn thể Giáo Hội, như ngài nhắc lại đoạn chót lời dâng hiến mà ngài đã đọc tại Fátima:

“Năm nay (1982), bằng một phương cách riêng, sau ngày mưu sát tôi (ĐTC GPh II), việc này ngẫu nhiên xảy ra trùng hợp trong ngày kỷ niệm Đức Trinh Nữ hiện ra tại Fátima, tôi phải nói tôi đang chuyện trò (cầu nguyện) với Mẹ Maria. Tôi lặp đi lặp lại ký thác cho Mẹ số phận mọi dân tộc. Tôi yêu cầu Chư Huynh Hồng Y kết hợp với tôi, tất cả cùng nhau, trong việc tận hiến này cho Đức Trinh Nữ, Đấng khích lệ và thánh hóa ngay cả những việc cực nhọc hằng ngày của chúng ta. Cùng nhau, chúng ta khiêm tốn cộng tác trong ý định vĩ đại này, mà tôi đã diễn đạt trong lời cầu nguyện với Đức Mẹ của chúng ta: “Ước gì quyền năng vô biên của tình yêu thương xót được một lần nữa tỏ ra trong lịch sử thế giới. Ước gì quyền năng vô biên đó chặn đứng sự dữ, cải đổi mọi lương tâm. Ước gì ánh sáng hy vọng được tỏ lộ cho mọi người trong Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội của Mẹ ...” (chữ nghiêng để nhấn mạnh)

Điều Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II mong muốn và hy vọng thực hiện tại Fátima ngày 13 tháng Năm, 1982, là với tính cách toàn thể Giáo Hội, kết hiệp với tất cả các Giám Mục, hiến dâng thế giới và nước Nga cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria. Điều chỉ dẫn rõ ràng nhất là nước Nga được bao gồm trong việc hiến dâng này qua ba lần Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II trực tiếp nhắc lại hai lời hiến dâng trước kia do Đức Thánh Cha Piô XII đọc. Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II nêu ra điều này trong thư gởi các Giám Mục toàn thế giới ngày 19 tháng Tư, 1982, và kèm cả bản sao hai lời dâng hiến này. Tông thư ngày 7 tháng Bảy, 1952, gồm một trong hai lời dâng hiến đã rõ ràng nêu tên nước Nga. Trong bài giảng Thánh Lễ ngày 13 tháng Năm, 1982, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II lại ám chỉ tới hai văn kiện trên và đề cập tới dân tộc Nga. Rồi đến lời hiến dâng chính thức vào cuối Thánh Lễ ngày 13 tháng Năm (1982), ngài lại ám chỉ những văn kiện này: “Bốn mươi năm trước rồi lại mười năm sau tôi tớ của Mẹ là Đức Giáo Hoàng Piô XII ... đã ký thác và hiến dâng cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội của Mẹ toàn thể thế giới, đặc biệt dân tộc mà Mẹ có lòng yêu thương và lo lắng cách riêng.”

Một trong những vị Giám Mục, hiện diện cùng với Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, ngay sau việc dâng hiến đã nói với ông Haffert rằng khi một vị Giám Mục khen ngợi Đức Thánh Cha về việc dâng hiến toàn thể thế giới, và Đức Thánh Cha nói thêm: “ ... và cả nước Nga nữa,” và đưa tay để nhấn mạnh lời nhận định.

Như thế, rõ ràng những gì Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II mong muốn và hy vọng thực hiện tại Fátima ngày 13 tháng Năm, 1982, đã hoàn toàn đúng với những điều Chúa mong muốn và đã nói cho chị Lúcia biết. Nhưng có phải những điều Chúa ước mong đã được hoàn toàn đáp ứng hay chưa. Một số người nghĩ rằng đã (đáp ứng) đủ, một số (người) cho rằng chưa.

Bây giời chúng ta có những gì khả dĩ được kể là câu trả lời có thẩm quyền. Câu trả lời được đưa ra từ một cuộc họp giữa chị Lúcia và các giới chức cao cấp trong Giáo Hội, phần quan trọng trong cuộc họp này được trình bày trong một bài viết trên báo Soul số tháng Năm-Sáu, 1983. Theo bài báo này, việc hiến dâng mà Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II thực hiện ngày 13 tháng Năm, 1982, là “giai đoạn thứ nhất và quan trọng nhất của việc dâng hiến nước Nga.” Còn “giai đoạn hai” và là “giai đoạn chót của hành động Giáo Hội toàn cầu dâng hiến” vẫn chưa được hoàn tất, mà việc này đã không thể thực hiện vào ngày 13 tháng Năm, 1982, vừa qua. Đức Thánh Cha vẫn cần phải chỉ định một ngày nhất định cho việc dâng hiến nước Nga cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria khi các Giám Mục từ nhà thờ chính tòa của mỗi vị trên khắp thế giới, sẽ kết hợp trong hành động dâng hiến long trọng và có tính cách cộng đồng này.”

Cần nhớ, như đã nói trước kia, việc nước Nga trở lại “đã được ký thác” cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria, và Thiên Chúa muốn cả thế giới biết việc nước này trở lại được thể hiện nhờ Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria, và việc đó sẽ chỉ xảy ra khi nào hành động toàn Giáo Hội dâng hiến được hoàn tất. Bây giờ, dấu chỉ đó sẽ rõ ràng hơn và chắc chắn làm cho toàn thế giới chú ý hơn do sự kiện các Giám Mục khắp thế giới thực hiện việc dâng hiến cách long trọng và cộng đồng trong mỗi nhà thờ chính tòa của giáo phận liên hệ.

Việc cả thế giới ghi nhận vai trò của Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria trong việc làm cho nước Nga trở lại sẽ lần lượt giúp truyền bá lòng sùng kính Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria trên khắp thế giới và đưa tới việc tôn vinh Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội song song với việc tận hiến đền tạ Trái Tim Cực Thánh Chúa. Đây là mục đích tối hậu của việc toàn thể Giáo Hội dâng hiến và, dĩ nhiên, của những lần Đức Mẹ hiện ra tại Fátima. Chúng ta đang đi vào kỷ nguyên của hai Thánh Tâm: Trái Tim Cực Thánh Chúa Giêsu và Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria.

Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã cho chúng ta thấy đường lối đó. Do việc dâng hiến mà Đức Thánh Cha thực hiện tại Fátima, ngài cho chúng ta thấy lòng tin của ngài vào thông điệp Fátima và giá trị của việc dâng hiến cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria. Bây giờ, khắp Giáo Hội, từng cá nhân và mọi người, nam nữ, cần phải tuân theo các đòi hỏi được đưa ra tại Fátima năm 1917. Tất cả chúng ta và dân tộc Nga và các quốc gia khác dưới thế lực thống trị của nước này đều là thành viên, là chi thể của một Nhiệm Thể Chúa Kitô. Điều mà Thánh Phaolô đã nói về chính ngài có thể áp dụng cho mỗi người chúng ta: “Trong thân xác tôi, tôi làm bất cứ điều gì có thể làm được để hoàn tất những gì còn phải được Chúa Kitô làm vì Nhiệm Thể của Ngài là Giáo Hội” (Colossians 1:24).

Đức Mẹ đã đặc biệt yêu cầu dâng nước Nga cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội của Người. Đức Mẹ không yêu cầu rõ ràng dâng hiến mọi cá nhân cho Trái Tim Đức Mẹ, nhưng điều yêu cầu đó được hàm ý trong lần Đức Mẹ hiện ra ngày 13 tháng Mười, 1917, khi Người hiện ra dưới hình ảnh Đức Mẹ Núi Carmel cầm áo Đức Mẹ mầu nâu trong tay, vì mang áo Đức Mẹ Núi Carmel là hình thức tận hiến cho Đức Mẹ. Và Giáo Hội đã chính thức khuyến cáo việc sùng kính áo Đức Mẹ và tận hiến cá nhân cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ. Chúng ta nhớ lời trích trong thông điệp hằng năm Auspicia Quaedam, ngày 1 tháng Năm, 1948, của Đức Thánh Cha Piô XII:

“Chính điều chúng ta mong ước là, bất cứ khi nào hoàn cảnh thuận lợi, việc dâng hiến cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria được thực hiện trong tất cả mọi giáo phận cũng như trong mọi giáo xứ và mọi gia đình. Và chúng ta tin chắc ân sủng và đặc ân dồi dào từ trời sẽ tuôn xuống do việc dâng hiến cá nhân và tập thể ...”

Điều đáng ghi chú là cách thức hàng giáo phẩm Ireland (Ái-nhĩ-lan) đáp ứng những việc Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã cử hành tại Fátima ngày 13 tháng Năm, 1982. Chúng tôi trích từ báo Soul số tháng Bảy-Tám, 1982:

“Theo chỉ đạo của Đức Hồng Y và các Giám Mục, trong toàn thể các giáo phận ở Ireland, mọi giáo xứ được dâng hiến cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria trong tất cả các Thánh Lễ Chúa Nhật tiếp sau ngày 13 tháng Năm, 1982, chỉ ít ngày sau việc dâng hiến Đức Thánh Cha thực hiện cùng với tất cả các Giám Mục khắp thế giới.

Hơn nữa, hai cuộc hội thảo rộng lớn đã được tổ chức tại hai trung tâm khác nhau ở Ireland, về chủ đề dâng hiến cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria ...”

Cũng nên kể lại những gì xảy ra hơn mười năm trước tại Poland (Ba-lan) liên quan đến việc dâng hiến công cộng cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria. Tháng Mười, 1971, sau ngày phong Chân Phước cho cha Maximiliam, dòng Thánh Phanxicô, vị anh hùng người Ba-lan, phái đoàn hành hương Ba-lan đã được Đức Thánh Cha Phaolô VI tiếp kiến (ban triều yết) đặc biệt. Dịp này, vị thủ lãnh hàng giáo phẩm Ba-lan, Đức Hồng Y Wyszynski, nhân danh Giáo Hội Ba-lan xin Đức Thánh Cha thực hiện việc toàn Giáo Hội dâng hiến thế giới và nước Nga cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria. Lời thỉnh cầu này được chuẩn bị bằng việc dâng hiến Nước Ba-lan cho Đức Mẹ do toàn thể hàng giáo phẩm tụ tập tại linh địa Đức Mẹ của Ba-lan tại Czestochowa. Hành động dâng hiến này được nối tiếp vào Chúa Nhật kế liền sau đó bằng việc dâng hiến tại mỗi giáo xứ trong toàn quốc.

Trong khi chờ đợi những việc Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II thực hiện tại Fátima ngày 13 tháng Năm, 1982, Đạo Binh Xanh liên tiếp cố gắng đạt được việc các Giám Mục dâng hiến giáo phận liên hệ cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria, và cũng không ngừng yêu cầu các ngài Giám Mục thúc giục các cha sở hiến dâng giáo xứ các ngài cho Đức Mẹ. Nỗ lực này được sơ khởi đáp ứng rất khích lệ.

Việc đền tạ, cầu nguyện (kinh Mân Côi), hy sinh, Thánh Thể, là những yếu tố quan trọng khác nữa trong thông điệp Fátima, tất cả đều kết hợp trong việc tận hiến các ngày thứ Bảy đầu tháng được Đức Mẹ và Chúa khuyến cáo hết sức mạnh mẽ. Nối tiếp những việc Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã làm tại Fátima ngày 13 tháng Năm, 1982, Đạo Binh Xanh liên tiếp vận động để đạt được việc mọi người thi hành tận hiến đền tạ các thứ Bảy đầu tháng.

Việc dâng hiến đền tạ các thứ Bảy đầu tháng lên Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria có chiều kích cá nhân: một phần thưởng lớn lao cho cá nhân là lời hứa ơn chết lành. Tuy nhiên, việc dâng hiến đền tạ các thứ Bảy đầu tháng cũng có kích thước xã hội mãnh mẽ, và chính tầm vóc xã hội này đã được Đức Mẹ nói đến tại Fátima ngày 13 tháng Bảy, 1917. Đức Mẹ đưa cả hai việc rước Lễ đền tạ và dâng hiến nước Nga cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ như là thuốc giải độc chống lại hiểm họa chiến tranh đói khát, đàn áp Giáo Hội, và Cộng Sản vô thần. Đức Mẹ nói những sự dữ này là hậu quả của tội lỗi nhân loại và những sự dữ này sẽ tiếp tục xảy đến cho thế giới nếu người ta không vâng theo lời Mẹ nhắn nhủ mà quay về với Chúa. Để giúp cho nhân loại ăn năn cải hối và để tránh sự trừng phạt mà Đức Mẹ nói không thể tránh khỏi Đức Mẹ đưa ra việc dâng hiến nước Nga cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ và rước Lễ đền tạ các thứ Bảy đầu tháng.

Việc rước Lễ đền tạ các thứ Bảy đầu tháng được Đức Mẹ nói rõ ràng ngày 13 tháng Bảy, 1917, trong lời nói chung cho cả nhân loại và là phương thế để được những ơn chung: hòa bình, tự do tôn giáo, v.v.. Người ta có cảm tưởng hầu hết mọi người nhìn thấy việc rước Lễ đền tạ chỉ dưới khía cạnh cá nhân. Đến lúc chúng ta nhận thấy tầm vóc xã hội quan trọng mà Đức Mẹ và cũng có nghĩa là cả Chúa nữa đã ban ra những điều này. Chúng ta phải làm cho “tận hiến đền tạ các thứ Bảy đầu tháng” là việc thực hành liên tục hàng tháng, vượt hơn “năm” lần. Chúng ta cần phải xưng tội, rước Lễ, cầu nguyện kinh Mân Côi, kết hợp với Mẹ suy gẫm các mầu nhiệm kinh Mân Côi (một, nhiều hoặc tất cả, tùy theo chúng ta thích cách nào), và làm tất cả việc tận hiến này trong tinh thần đền tạ Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria. Chúng ta cần phải thi hành việc này mỗi tháng và khuyến khích thân nhân, bè bạn cũng làm như vậy. Và chúng ta cũng phải luôn luôn nhớ làm việc này vì lòng yêu thương mọi người, để đem nhân loại và thế giới, kể cả nước Nga, trở lại với Thiên Chúa, và cũng nên nhớ: chúng ta đang làm một trong những việc quan trọng nhất có thể làm để đạt được việc nước Nga trở lại với Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria và làm cho hòa bình mau tới.

Trong rất nhiều lần đối thoại, chị Lúcia nhận được từ năm 1917 về sau: Chúa và Đức Mẹ đã thông đạt cho chị cảm tưởng cấp bách liên quan đến truyền bá việc rước Lễ đền tạ các thứ Bảy đầu tháng. Một trong những điều hẳn đã ảnh hưởng mạnh đến chị Lúcia về tầm quan trọng của việc truyền bá này là chính Chúa, qua Đức Mẹ, đã nói rõ vào ngày 13 tháng Sáu, 1929, một trong các điều kiện để nước Nga trở lại là Đức Thánh Cha phải “hứa khi những đàn áp Giáo Hội chấm dứt (nước Nga trở lại),  Đức Thánh Cha sẽ chấp thuận và khuyến cáo việc thực hành tận hiến đền tạ các thứ Bảy đầu tháng.”

Mặc dầu việc tận hiến đền tạ Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria đã được ban ra tại Fátima và nhấn mạnh việc đền tội, việc này hẳn không thể làm chúng ta giảm bớt chú ý tới tình thương yêu của Đức Mẹ tỏ rõ ở đây theo khía cạnh lòng thương xót và bao dung. Qua việc Mẹ Maria tiếp xúc với ba bé mục tử tại Fátima và thông điệp về nước Nga và thế giới, Mẹ cho thấy Mẹ là mẹ thương xót và bao dung, người mẹ hiền mà Giáo Hội yêu kính và cầu nguyện trải qua hàng bao thế kỷ nay trong kinh Lạy Nữ Vương và kinh Hãy Nhớ. Lòng Đức Mẹ yêu thương biểu lộ trong mọi điều Người làm và nói tại Fátima mà vẻ dịu dàng, xót thương âu yếm đã được thánh Bernard de Claivaux và rất nhiều vị thánh khác trước và sau ngài tuyên xưng. Đó là tình yêu quan hoài, trắc ẩn tại tiệc cưới Cana. Đó là tình yêu tha thứ mà Trái Tim Mẹ tuôn ra cho chúng ta ở chân Thánh Giá. Đó là tình yêu đến với những kẻ yếu đuối và người nghèo khổ; tình yêu đó nghiêng mình bên những kẻ bị thương tích và đau khổ; tình yêu đó an ủi vỗ về và nâng đỡ chỗi dậy.

Vì trong tất cả những lần hiện ra, Đức Mẹ đến với chúng ta như là Sứ Giả của Thiên Chúa. Mục đích tối hậu của việc Đức Mẹ đến Fátima là Chúa yêu thương chúng ta biết chừng nào và theo đuổi thuyết phục chúng ta trong tình yêu mãnh liệt vô bờ đối với chúng ta. Tại Fátima, Chúa cho chúng ta thấy rõ ràng Ngài là mục tử tốt lành, không muốn dẫu chỉ một con trong những con chiên nhỏ bé của Ngài bị hư mất. Và nếu một trong những con chiên của Ngài đi lạc, Ngài sẵn sàng để những con khác trên sườn đồi và đi tìm kiếm con chiên lạc bầy (Matthêu 18:12-14). Hẳn là thích thú nếu biết được từ năm 1917 bao nhiêu lần Chúa và Đức Mẹ đã nói với chị Lúcia và, qua chị, theo đuổi tìm kiếm con chiên nước Nga lạc bầy. Lúc này, mỗi cá nhân và mọi người chúng ta được liên tiếp kêu gọi tham gia giai đoạn chót việc theo đuổi tìm kiếm này bằng việc thực hành đền tạ các thứ Bảy đầu tháng và nỗ lực làm cho người khác cũng làm việc này.

Nhưng mục tiêu còn xa hơn việc nước Nga trở lại là hòa bình thế giới và tránh thảm họa nguyên tử. Xưa nay chưa bao giờ thế giới phải đối diện với nguy cơ đó như ngày nay. Liệu chúng ta có dám không làm gì hết đối với vấn đề đó? Hoặc chúng ta cứ rong chơi thỏa thích như dân chúng thời ông Noe (Noah) và Đại Hồng Thủy?

Ngày 13 tháng Năm, 1982, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã đưa chúng ta đi một bước tới gần hơn việc nước Nga trở lại và thời kỳ hòa bình tiếp sau đó. Một bước quan trọng khác vẫn còn cần phải được thực hiện: “giai đoạn chót” của việc toàn thế giới Công Giáo dâng nước Nga cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria. Chúng ta đã giúp đạt được “giai đoạn thứ nhất” việc hiến dâng này, chúng ta có thể và phải làm cho “giai đoạn chót” mau tới.

Tháng Sáu, 1938, nhân dịp cuốn sách mà tác giả là tu sĩ José Galamba de Oliveira gởi cho chị Lúcia, chị đã viết một bức thư gởi Đức Giám Mục Leiria, trong đó chị nói:

“ .. Thưa Đức Giám Mục khả kính, Jacinta đã hết sức cảm động vì một số những điều được mạc khải, và với tình yêu lớn lao của bé Jacinta đối với Đức Thánh Cha, và đối với những kẻ tội lỗi, bé thường nói “tội nghiệp Đức Thánh Cha!” “Em rất thương những kẻ tội lỗi.”

“Và bây giờ con xin thêm: nếu như bé Jacinta còn sống lúc này, khi những việc này quá gần với lúc được thực hiện, hẳn bé Jacinta còn cảm động hơn biết bao! Nếu thế giới hiểu được thời gian ân huệ vẫn còn dành cho thế giới mà ăn năn thống hối!”

Điều chị Lúcia viết như là chị cảm thấy những gì xảy ra trong Thế Chiến II sẽ xảy ra cho chúng ta ngày nay, những người đang sống dưới đe dọa triền miên của chiến tranh nguyên tử. Nếu như thế giới ý thực được thời gian ân huệ vẫn còn dành cho thế giới mà ăn năn thống hối!