23 Chương 23
Chương 23
Đạt Được Dâng Hiến Nước Nga
Ngày 10 tháng Mười Hai, 1929, Đức Mẹ cho chị Lúcia công thức về việc Giáo Hội dâng hiến nước Nga. Vào một ngày, không ghi rõ, sau đó, “qua lần nói chuyện thân mật,” tức là, Đức Mẹ nói mà không hiện ra, Đức Mẹ cho chị Lúcia biết việc hiến dâng nước Nga như Chúa mong ước sẽ được thực hiện, nhưng “trễ,” quá trễ đến độ nước đó “đã gieo rắc tai ương khắp thế giới, xúi giục chiến tranh và đàn áp Giáo Hội.” Và Đức Mẹ nói thêm: “Đức Thánh Cha sẽ phải chịu nhiều đau khổ.” Đức Mẹ đã thương không cho chị biết việc dâng hiến Chúa mong mỏi đó bị trễ bao lâu mới được thực hiện.
Nếu việc dâng hiến nước Nga được thực hiện trễ thì đó không phải lỗi của chị Lúcia. Chị đã trung thành với sứ mệnh, đã thi hành mọi việc có thể để thực thi bất cứ điều gì Chúa muốn chị làm. Chúa chẳng bao giờ thiếu trung tín với điều Ngài đã hứa, như chị Lúcia kể lại trong một số thư: Chúa cho chị cho biết lúc nào Ngài cũng sẵn sàng thương xót nước Nga và mong nước này trở lại. Nội dung các thư này cho thấy Thiên Chúa mong mỏi chúng ta đặt Chúa vào hoàn cảnh Ngài phải thực hiện lời đã hứa. Tất cả những gì chúng ta phải làm là đạt cho được việc dâng hiến nước Nga đúng theo ý Chúa muốn và nước đó sẽ được làm cho trở về với Thiên Chúa.
Lòng Chúa thương xót vô biên và tha thiết ước mong cứu nước Nga được biểu lộ mạnh mẽ trong thư gởi cha Goncalves, chị Lúcia viết tại Pontevedra ngày 21 tháng Giêng, 1935. Thư này cũng cho thấy chị Lúcia hết sức quan tâm và làm mọi điều có thể để đạt được việc dâng hiến nước Nga như đã kể. Chị bắt đầu khuyến khích cha Goncalves “dấn bước” xin Đức Thánh Cha thực hiện việc dâng hiến ước mong này. Khi đó, rõ ràng nhằm thúc đẩy cha Goncalves hành động, chị nói với ngài: “khoảng ba năm trước Chúa cho thấy Chúa rất buồn vì lời Chúa yêu cầu không được thi hành.” Chị nói thêm chị đã gởi thư cho Đức Giám Mục Leiria trình cho ngài biết việc này. Trong thơ này, chị cũng cho thấy chị đã làm hết mọi việc chị phải làm, chị viết: “cho tới lúc này, Chúa không đòi hỏi gì thêm ở con, ngoại trừ cầu nguyện và hy sinh.”
Rõ ràng Chúa thương xót và quan tâm tới nước Nga trong những lần nói chuyện với chị như kể lại: trong “những lần nói chuyện thân mật”, Chúa cho thấy Ngài thương xót nước Nga khốn khổ như đã hứa năm năm trước, và chị nói: “Chúa hết sức muốn cứu nước Nga.” Năm năm sau, trong một thư khác cũng gởi cho linh mục Goncalves, ngày 15 tháng Bảy, 1940, chị nói: “Chúa cho thấy rõ Chúa buồn phiền hết sức vì lời Chúa không được người ta lắng nghe.”
Linh mục Richard de Paris, chuyên viên hàng đầu của Pháp về Fátima, trong bài nói chuyện về nước Nga tại Hội Nghị Quốc Tế họp ở Fátima, tháng Tám năm 1971, cho biết: tháng Năm, 1937, Đức Giám Mục Leiria trình lên Đức Thánh Cha Piô XI điều Chúa yêu cầu liên quan đến việc dâng hiến nước Nga cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria. Ngài linh mục nói thêm Tòa Thánh xác nhận đã nhận thư nói trên. Rõ ràng đây là văn kiện đầu tiên Tòa Thánh nhận được liên quan đến việc này, mãi năm năm rưỡi sau ngày chị Lúcia nhận được lời Đức Mẹ yêu cầu.
Ngày 4 tháng Chín, 1939, Thế Chiến thứ hai bùng nổ, mọi việc diễn tiến mau lẹ hơn. Chị Lúcia không ngừng nỗ lực để đạt được việc Đức Giám Mục Leiria chấp nhận việc tận hiến đền tạ các thứ Bảy đầu tháng, và chỉ một thời gian ngắn, chín ngày sau khi Thế Chiến bùng nổ vào ngày 13 tháng Chín, 1939, Đức Giám Mục ban hành việc tận hiến đền tạ này.
Kế đó, từ một đoạn trích trong các tài liệu chị Lúcia viết (hoặc trích các thư hoặc ghi chú) đề ngày 22 tháng Mười, 1940, chúng tôi thấy linh mục José Bernado Goncalves và Đức Giám Mục giáo phận Gurza đã gởi thư cho chị yêu cầu chị viết thư trình lên Đức Thánh Cha. Chị đã nói với Chúa về việc này trong khi đặc biệt quỳ suốt hai giờ đồng hồ trước Thánh Thể. Dĩ nhiên Chúa nói với chị. Chúa bảo chị cầu nguyện cho Đức Thánh Cha, dâng hy sinh theo ý chỉ của ngài “để trái tim ngài không bị gục ngã vì những lo âu đè nặng tâm hồn ngài (vì chiến tranh).” Chúa nói thêm sự thống khổ còn kéo dài và tệ hại hơn. Rồi, nhắc lại những lời Đức Mẹ đã nói tại Fátima ngày 13 tháng Bảy, 1917, khi Đức Mẹ cho ba bé biết những việc sẽ xảy ra nếu người ta không nghe theo lời Mẹ chỉ dạy, Chúa phán Ngài sẽ “phạt các quốc gia vì tội ác các nước này bằng chiến tranh, đói khát, áp bức Giáo Hội” những việc này đè nặng tâm tư Đức Thánh Cha.
Chúng ta hiểu ra rằng Thiên Chúa nhân từ xót thương đã ban lời hứa tập trung vào Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria và đặc biệt việc dâng hiến nước Nga cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ, Chúa nói Đức Thánh Cha sẽ xin rút ngắn được những ngày đau khổ: “nếu Đức Thánh Cha làm theo điều Ta (Chúa) mong ước là dâng hiến toàn thế giới cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria, với lời nhắc đặc biệt đến nước Nga ...”
Lời hứa đặc biệt này khác với lời hứa hoán cải nước Nga, không nêu ra việc cần các Giám Mục khắp thế giới kết hợp với Đức Thánh Cha trong hành động dâng hiến này. Những gì phải được dâng hiến không phải chỉ riêng nước Nga, mà “cả thế giới ... với lời nhắc đặc biệt đến nước Nga.”
Lời Chúa mới hứa này được chị Lúcia tường trình ngày 22 tháng Mười, 1940, là chìa khóa dẫn tới nhiều hành động dâng hiến cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria mà các Đức Thánh Cha khởi sự thực hiện từ ngày 31 tháng Mười, 1942.
Chính cha Goncalves, người chép lại một tài liệu ngắn, từ đó những dữ liệu vừa nói trên được trích dẫn, đã đưa ra lời dẫn giải có hiệu lực là “sau đó” chị Lúcia “viết bức thư.” Bức thư được ám chỉ đây do chị Lúcia viết tại nhà dòng ở thành phố Túy ngày 22 tháng Mười, 1940, cũng ngày viết tài liệu mà cha Goncalves chép lại. Thư này viết cho “Đức Thánh Cha”. Nhưng thư đó không bao giờ được trình lên Đức Thánh Cha Piô XII nguyên văn như đã viết ngày 22 tháng Mười, 1940, mà được thay đổi một vài chỗ. Và ngày 2 tháng Mười Hai, 1940, từ Túy, chị Lúcia đã gởi bức thư được sửa đổi lên Đức Thánh Cha Piô XII.
Điều quan trọng cần biết là chị Lúcia đã có ý định đệ trình Đức Thánh Cha việc này, do đó chúng ta bắt đầu bằng việc đề cập tới những điều liên quan tới việc tận hiến đền tạ các thứ Bảy đầu tháng và dâng nước Nga cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria như thấy trong bản nháp bức thư dài chính chị Lúcia viết ngày 22 tháng Mười, 1940.
Đoạn thứ hai trong thư này quan trọng vì cho thấy điều thỉnh nguyện chị sắp đưa ra đã từng được chuyển lên Đức Thánh Cha rồi. Thỉnh nguyện này đã “nhiều” lần được trình lên Đức Thánh Cha Piô XII và Đấng Tiền Nhiệm của ngài, Đức Piô XI. Chị cũng cho biết cả hai Đức Giáo Hoàng đều tiếp nhận thỉnh nguyện đó “với hết lòng đại lượng.”
Chị Lúcia tiết lộ tiếp những lời Đức Mẹ đã nói ngày 13 tháng Bảy, 1917, về kết thúc Thế Chiến thứ nhất, lời tiên tri về Thế Chiến khác sẽ bùng nổ trong triều đại Đức Thánh Cha Piô XI và những lời kế tiếp về việc Đức Mẹ lại đến để yêu cầu tận hiến đền tạ các thứ Bảy đầu tháng và dâng hiến nước Nga, gồm cả lời hứa: rồi nước đó sẽ trở lại và một thời gian hòa bình cho thế giới. Chị cũng nhắc tới chị và hai em họ của chị gọi điều này là bí mật, và dĩ nhiên giữ kín cho tới năm 1926.
Kế đó chị trình lên Đức Thánh Cha việc tận hiến đền tạ các thứ Bảy đầu tháng như Đức Mẹ đã dạy chị. Chị cũng nêu ra việc trình cha giải tội của chị và ngài đã thực hiện “một số nỗ lực” như thế nào để ước nguyện của Đức Mẹ được thi hành. Nhưng chị nói thêm Đức Giám Mục Leiria “chỉ” công bố điều này ngày 13 tháng Chín, 1939. Chị kết luận phần về việc tận hiến đền tạ các thứ Bảy đầu tháng bằng lời xin Đức Thánh Cha “công bố và ban phép lành cho việc tận hiến này cho cả thế giới.”
Sau chót, chị Lúcia nói đến lần Đức Mẹ hiện ra năm 1929, Đức Mẹ cho chị biết đã tới lúc Chúa muốn Đức Thánh Cha “kết hợp với tất cả các Giám Mục toàn thế giới, dâng hiến nước Nga cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ” và Đức Mẹ đã hứa cứu nước đó bằng cách này. Cần ghi chú: chị Lúcia không nêu ra ở đây tất cả các chi tiết chị đã nói trong thư gởi linh mục Goncalves mà ngài nhận được ngày 29 tháng Năm, 1929, như đã kể trong chương trước.
Chị Lúcia tiếp tục trình lên Đức Thánh Cha rằng chị đã nói với cha giải tội của chị điều Chúa yêu cầu và “ngài đã dùng một số phương cách để trình đều này lên Đức Piô XI, Đấng Tiền Nhiệm, và lên chính Đức Thánh Cha Piô XII, vào tháng Sáu, 1940,” qua Đức Giám Mục Macau. Chị nói thêm: đối với chị thì “dường như” cha Luis Gonzaga da Foncesca, S.J. cũng đã trình điều này lên Đức Thánh Cha “một ít lâu sau” và ngài đã “tiếp nhận với lòng đại lượng cao cả.”
Chúng ta biết thêm chút ít về việc chị Lúcia vẫn tiếp tục nói chuyện với Chúa (không có thị kiến) như chị trình lên Đức Thánh Cha “trong nhiều lần nói chuyện thân mật,” Chúa “đã không ngừng nài nỉ nhấn mạnh đến điều Ngài yêu cầu.”
Kế đến, chị trình lên Đức Thánh Cha lời Chúa hứa “mới đây” về “rút ngắn những ngày đau khổ” như chị đã làm ngày 22 tháng Mười, 1940, mặc dầu chị không nói đây là lời hứa “mới”, nhưng tự nó khẳng định như vậy.
Trong một đoạn ngắn tiếp theo, chị trình lên Đức Thánh Cha: nhiều lần nói chuyện huyền nhiệm với Chúa, Chúa “có vẻ âu sầu lắm” vì nhiều linh hồn hư mất và những đàn áp Giáo Hội, chị dùng số nhiều, Đức Thánh Cha sẽ phải chịu đựng, và khi chính chị “thấy Trái Tim Chúa đau khổ” đến độ chị “không thể cầm lòng” không thể không trình Đức Giám Mục Leiria điều đó trong “nhiều” thư riêng gởi cho ngài.
Đoạn tiếp theo cũng rõ ràng. Đoạn này nói đến lời hứa khác nữa của Chúa. Chị trình Đức Thánh Cha biết việc Chúa hứa bảo vệ cách riêng Portugal (Nước Bồ-đào-nha) vì việc các Giám Mục nước này đã dâng hiến cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria. Và việc bảo vệ này sẽ là dấu chỉ ân sủng mà Chúa cũng ban cho các nước khác nếu các nước đó cũng đã được dâng hiến. Sự kiện Portugal được giữ không bị liên lụy vào Thế Chiến thứ hai cho thấy rõ Chúa thi hành lời Ngài đã hứa. Đây là chỉ dẫn quan trọng về những ân huệ vĩ đại được hưởng do việc dâng hiến cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria, và điều này không phải chỉ áp dụng cho các quốc gia, mà cho cả các dòng tu, các giáo phận, giáo xứ, gia đình và cá nhân.
Tiếp đến, chị đưa ra lời thỉnh cầu hoàn toàn cá nhân mà chị gọi là “lòng ao ước mãnh liệt của trái tim hèn mọn của con,” rõ ràng chị không chuyển đạt thông điệp được Chúa hoặc Đức Mẹ đưa ra. Chị xin Đức Thánh Cha nâng lễ kính Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria lên hàng “Lễ Trọng” và áp dụng trong toàn thể Giáo Hội.
Như đã nêu trên, thư này không bao giờ được đệ trình Đức Thánh Cha Piô XII đúng nguyên văn chị viết ngày 22 tháng Mười, 1940. Những thay đổi quan trọng đã được những người khác thực hiện. Ngày 2 tháng Mười Hai, 1940, từ thành phố Túy, chị Lúcia gởi trình lên Đức Thánh Cha một bản của bức thư được sửa đổi.
Sau đây là hai điều thay đổi quan trọng thực hiện trên bức thư, mà sau đó nhân danh chị Lúcia gởi lên Đức Thánh Cha. Một điểm sửa đổi liên quan đến lời Đức Mẹ yêu cầu năm 1929, và điều kia liên quan đến lời Chúa yêu cầu ngày 22 tháng Mười, 1940.
* Sửa đổi thứ nhất là bỏ bớt câu “kết hợp với toàn thể các giám mục khắp thế giới” trong lời Đức Mẹ yêu cầu năm 1929.
* Sửa đổi thứ hai là thêm cũng câu “kết hợp với toàn thể các giám mục khắp thế giới” vào lời Chúa yêu cầu ngày 22 tháng Mười, 1940.
Chúng tôi không tìm thấy giải thích đầy đủ cho lý do những lời sửa đổi này ở bất cứ văn kiện nào khác. Tuy nhiên lời giải thích này hẳn phải hiểu là chị Lúcia nói tới hai lần trong bản thảo viết ngày 24 tháng Mười, 1940, điều Đức Mẹ yêu cầu năm 1929 “đã nhiều lần được chuyển trình” lên Đức Thánh Cha (Piô XI). Thật vậy, chị xác định điều đó đã được cha giải tội của chị đệ trình Đức Thánh Cha “mới đây, vào tháng Sáu, 1940.” Như vậy, Đức Thánh Cha đã biết toàn bộ lời Đức Mẹ yêu cầu năm 1929, với câu “kết hợp với toàn thể các giám mục khắp thế giới.” Điều này hẳn có thể giải thích lý do câu văn “kết hợp ...” đã lược bỏ trong thư ngày 2 tháng Mười Hai, 1940. Nhưng lại không giải thích tại sao câu văn đó lại được thêm vào lời yêu cầu ngày 22 tháng Mười, 1940, như thể Chúa đã nói lời đó. Cũng còn một nghi vấn nữa là chị Lúcia đã gởi lên Đức Thánh Cha Piô XII thư đề ngày 2 tháng Mười Hai, 1940, với những sửa đổi, mà chỉ nhân danh riêng chị.
Linh mục Joaquin Alonso, C.F.M., người có địa vị đặc quyền cao cấp về những sự kiện Fátima, nói như sau về những sửa đổi này và cảm tưởng của chị Lúcia đối với vấn đề đó:
“Chắc là nhiều người muốn biết tại sao có sự khác biệt này. Chúng ta không thể khai triển vấn đề này trong thời gian ngắn, nhưng quá trình thời gian cho biết những sửa đổi đó là do sự can thiệp của những người nào đó chứ không phải ý muốn của chị Lúcia.” (trong tác phẩm: A Heart For All, p. 59).
Điều ngạc nhiên là Đức Thánh Cha Piô XII đã thực sự thi hành đầy đủ đúng lời yêu cầu Chúa nói với chị Lúcia ngày 22 tháng Mười, 1940, như thể những lời yêu cầu được trình lên ngài trong thư ngày 2 tháng Mười Hai, 1940 không bị sửa đổi. Nhưng Đức Thánh Cha đã không thực hiện ngay. Mãi gần hai năm sau, ngày 31 tháng Mười, 1942, Đức Thánh Cha mới thực hiện việc dâng hiến (thế giới và nước Nga cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria). Người ta ngờ rằng trong khoảng thời gian ở giữa, Đức Thánh Cha đã nhận được lời yêu cầu như nguyên văn Chúa đã cho chị biết. Thật vậy, cha Alonso nói “những cuộc vận động do hàng giáo phẩm Portugal trình lên Đức Thánh Cha” được thực hiện trong thời gian này.
“Năm 1942, kỷ niệm hai mươi lăm năm Đức Mẹ hiện ra và cũng là Lễ Bạc chức vụ chủ chăn (chức Giám Mục) của Đức Thánh Cha Piô XII. Tuy nhiên, vì những kinh hoàng của Thế Chiến thứ hai bao trùm khắp nhân loại, Đức Thánh Cha dường như chưa quyết định hành động theo những đề nghị - điều Thiên Chúa yêu cầu - mà chị Lúcia đệ trình. Chính chị Lúcia rất tiếc việc này, nhưng chị bày tỏ lòng hết sức khiêm tốn với Đức Thánh Cha. Trong bầu không khí của hai kỷ niệm Ngân Khánh này, những thỉnh nguyện từ hàng giáo phẩm Bồ-đào-nha đệ trình Đức Thánh Cha, việc phát hành hai cuốn sách mới về Fátima với những tiết lộ về Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria làm mọi người sửng sốt, tất cả những thứ này dường như đem lại nguồn hy vọng mới.
“Đột nhiên, như thể được Chúa thúc đẩy, ngày 31 tháng Mười, 1942, Đức Thánh Cha Piô XII dâng hiến thế giới và lời hàm ngụ, tế nhị nhưng hoàn toàn rõ ràng là nước Nga cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria.” (A Heart For All, p. 61).
Cho dù những “vận động do hàng giáo phẩm Bồ-đào-nha trình lên Đức Thánh Cha” đã thực sự bao gồm những yêu cầu mới đối với việc Đức Thánh Cha dâng hiến thế giới, tức là có lời nhắc đến nước Nga cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria (nhưng không gồm phần các giám mục toàn thế giới kết hợp thi hành dâng hiến cùng với Đức Thánh Cha) thì hẳn cũng không quan trọng lắm, ít nhất từ một quan điểm thực tiễn.
Điều hy vọng là thông điệp Chúa và Đức Mẹ gởi đến, qua chị Lúcia, đã làm cho Đức Thánh Cha cảm động và quyết định hành động theo thông điệp đó. Không nhắc đến, nhưng Đức Thánh Cha đã âm thầm công nhận những thông điệp này bằng cách thực hiện việc dâng hiến trong phần kết thúc các nghi lễ kỷ niệm hai mươi lăm năm Đức Mẹ hiện ra tại Fátima. Việc dâng hiến là một phần chính yếu trong các nghi lễ này. Như đã nói trong tác phẩm “Fátima, Hope of the World”:
“Chính việc dâng hiến này đã được dọn đường bằng một thông điệp gởi Portugal (nước Bồ-đào-nha) đã được chính Đức Thánh Cha đọc trọn vẹn bằng tiếng Portuguese (Bồ-đào-nha). Mặc dầu thông điệp này gởi riêng cho Portugal, nhưng đã được truyền thanh khắp thế giới trên làn sóng điện Vatican. Chính ngày kỷ niệm hai mươi lăm năm Đức Mẹ hiện ra, Đức Hồng Y Tổng Giám Mục Lisboa, toàn thể các Giám Mục Bồ-đào-nha, nhiều chức sắc khác trong Giáo Hội, và các nhân vật cao cấp ngoài đời tụ họp trong vương cung thánh đường, có trang bị hệ thống phóng thanh, lắng nghe Đức Thánh Cha đọc thông điệp và biểu hiện việc dâng hiến (Fátima, Hope of the World, p. 122).
Đức Thánh Cha cũng đã làm đúng một thỉnh cầu khác do chị Lúcia chuyển đạt, “Lễ Kính Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria được nâng lên hàng các Lễ Trọng áp dụng cho toàn thể Giáo Hội khắp hoàn cầu.” Thư ngày 2 tháng Mười Hai (1940) lặp lại lời thỉnh cầu này như chị viết nháp ngày 24 tháng Mười, 1940. Chị không nói chị nhận được điều yêu cầu này từ Thiên Chúa đưa ra: “điều ước vọng đơn sơ tha thiết của trái tim hèn mọn của con.”
Ngày 8 tháng Năm, 1944, Đức Thánh Cha thiết lập lễ kính Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria là lễ mừng trong toàn thể Giáo Hội khắp thế giới và ban hàng lễ chế quan trọng của trật lễ Đôi Bậc Nhì. Ngày được chọn là 22 tháng Tám, không phải không có ý nghĩa. Vì ngày đó trong tuần tám ngày lễ Đức Mẹ Linh Hồn Và Xác Lên Trời, lễ quan trọng nhất mừng kính Đức Mẹ.
Chúa đã hứa nếu Đức Thánh Cha hiến dâng thế giới cùng với lời nhắc đến nước Nga cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria thì Thế Chiến thứ hai sẽ mau kết thúc. Lời hứa đó đã được hoàn tất.
Một vài tháng sau ngày Đức Piô XII dâng hiến thế giới và nước Nga cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria, Chúa nói với chị Lúcia về những việc Đức Thánh Cha đã làm và tỏ ra hài lòng về việc dâng hiến đó. Cha Alonso trích từ một trong các thư chị Lúcia viết vào đầu năm 1943, chị nói:
“Thiên Chúa đã cho con thấy Ngài hài lòng về việc dâng hiến, “mặc dầu chưa đầy đủ theo ý Chúa muốn,” mà Đức Thánh Cha và nhiều Giám Mục thi hành, để đổi lại, Chúa hứa sẽ làm cho Thế Chiến thứ hai sớm kết thúc, việc nước Nga trở lại thì lúc này chưa.”
Khi chị Lúcia nói việc dâng hiến ngày 31 tháng Mười, 1942, “chưa đầy đủ như ý Chúa muốn”, chị nhắc lại điều ước vọng thứ nhất Đức Mẹ đưa ra năm 1929. Thực vậy, việc dâng hiến ngày 31 tháng Mười, 1942, đã thi hành đầy đủ theo lời yêu cầu thứ nhì Chúa đưa ra ngày 22 tháng Mười, 1940, và khác với lời yêu cầu thứ nhất. Vì việc dâng hiến ngày 31 tháng Mười, 1942, đã hoàn tất, Chúa giữ lời đã hứa và thúc đẩy cho Thế Chiến thứ hai mau kết thúc. Đó là điều Chúa hứa ban liên quan đến việc dâng hiến thế giới và nước Nga ngày 31 tháng Mười, 1942. Lời Chúa hứa cho nước Nga trở lại và một thời gian hòa bình cho thế giới nối kết với lời yêu cầu năm 1929 và những điều kiện ràng buộc trong đó.
Thế Chiến thứ hai đã không chấm dứt mau lẹ sau ngày dâng hiến 31 tháng Mười, 1942. Nước Đức đầu hàng được ký ngày 7 tháng Năm, 1945, Nước Nhật đầu hàng ngày 2 tháng Chín, 1945. Nhưng bước đầu của chiến thắng đã tới rất sớm với việc Nước Ý đầu hàng vô điều kiện ngày 3 tháng Chín, 1943.
Cũng nên ghi chú là những chỉ dẫn về thời gian trong các lời tiên tri thường là một vấn đề rắc rối. Người nhận được thông điệp thường sống trong cảm tưởng cấp bách và nghĩ việc được tiên tri sẽ đến sớm hơn việc đó thực sự xảy ra.
Lời hứa thứ hai liên quan đến hành động cộng đồng dâng hiến cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria được hoàn tất. Lời hứa thứ nhất liên quan đến dâng hiến Portugal và “bảo vệ quốc gia này cách riêng.” Điều này hẳn giúp chúng ta thấy rõ và được khích lệ do việc dâng hiến nước Nga và thời gian hòa bình cho thế giới tiếp theo đó.
Việc dâng hiến ngày 31 tháng Mười, 1942, chỉ là hành động thứ nhất trong một loạt những dâng hiến cộng đồng được Đức Thánh Cha Piô XII thực hiện theo thông điệp Fátima.
Ngày 8 tháng Mười Hai, 1942, Đức Thánh Cha đã dâng giáo phận Roma của ngài cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria. Đức Thánh Cha dâng giáo phận Roma trong một nghi lễ cử hành tại thánh đường Thánh Phêrô có nhiều Hồng Y, Tổng Giám Mục, Giám Mục và hàng ngàn người khác tham dự.
Trong Sắc Lệnh Auspicia Quaedam, ngày 1 tháng Năm, 1948, Đức Thánh Cha Piô XII yêu cầu dâng hiến các giáo phận, giáo xứ và gia đình cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria.
“Mấy năm trước, như mọi người hẳn còn nhớ, khi Thế Chiến vừa qua còn sôi động, khi nhân loại hoang mang và không thể đương đầu với tai họa khủng khiếp đó, chúng ta đã dâng lên Chúa Cứu Thế vô cùng thương xót những lời cầu nguyện nồng cháy của chúng ta, cầu cứu sự bảo trợ mạnh mẽ nơi Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria.
Và ngay cả Đức Leo XIII, Đấng tiền nhiệm không bao giờ phai mờ trong ký ức chúng ta, đã thấy thích đáng phải dâng hiến toàn thể nhân loại cho Trái Tim Cực Thánh Chúa Giêsu, chúng ta cũng vậy, trong vai trò đại diện toàn thể gia đình nhân loại Chúa đã cứu chuộc, ước ao dâng hiến toàn thể nhân loại cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Đức Trinh Nữ Maria.
Do đó chúng ta ước mong, bất cứ khi nào có cơ hội thuận tiện, việc dâng hiến này được thực hiện trong các giáo phận, cũng như trong mọi giáo xứ và gia đình. Và chúng ta tin chắc ân sủng dồi dào từ trời sẽ đổ tràn đầy trên mọi người do việc dâng hiến riêng tư và cộng đồng này.”
Ngày 7 tháng Bảy, 1952, lễ kính Thánh Cyril và Methodius, tông đồ dân tộc Slav, Đức Piô XII đưa ra tông thư Sacro Vergente Ano. Trong tông thư này lần nữa Đức Piô XII dâng nước Nga cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria. Lần hiến dâng trước, ngày 31 tháng Mười, 1942, gồm lời nói ám chỉ nước Nga như sau:
“Xin Mẹ ban hòa bình cho các dân tộc phân cách với chúng con vì lầm lạc và bất thuận, nhất là cho những người đặc biệt tận hiến sùng kính Mẹ, nơi mà không một gia đình nào không trưng bày ảnh Mẹ (ngày nay có lẽ phải cất giấu dành đến ngày tốt đẹp hơn); xin Mẹ đem tất cả trở về một đoàn chiên Chúa Kitô, dưới một mục tử đích thực.”
Tuy nhiên, việc dâng hiến ngày 7 tháng Bảy, 1952, đã nói rõ ràng đến nước Nga: “Chúng con ký thác và hiến dâng cách đặc biệt cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ mọi dân tộc Nga ...”
Trong tông thư Sacro Vergente Ano, Đức Thánh Cha tuyên bố một số người gởi thư khen ngợi việc ngài minh định Tín Điều Đức Mẹ Linh Hồn Và Xác Lên Trời, “đã tha thiết nài nỉ ngài hiến dâng toàn thể dân tộc Nga cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria.” Đức Thánh Cha nói thêm: “Cha hết sức vui lòng về thỉnh cầu này...” Đức Thánh Cha hài lòng vì ngài biết Chúa Thánh Thần hoạt động trong Giáo Hội từ tầng lớp thấp nhất (giáo dân) cũng như nơi phẩm trật cao nhất, và biết rằng lắng nghe tiếng nói trung thành giúp ngài sáng suốt tìm kiếm thánh ý Chúa trong việc dẫn dắt Giáo Hội.
Sau cùng, ngày 11 tháng Mười, 1954, cũng Đức Thánh Cha Piô XII đã đưa ra Sắc Lệnh Ad Caeli Reginam, trong đó Đức Giáo Hoàng nói:
“ ... Ta, do quyền Tông Đồ của mình, quyết định và thiết lập lễ Đức Maria Nữ Vương phải được cử hành trên khắp thế giới vào ngày 31 tháng Năm. Và Ta cũng truyền trong chính ngày lễ đó, tái hiến dâng nhân loại cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Đức Trinh Nữ Maria. Nhờ việc này nhiều hy vọng lớn lao sẽ đến một thời đại hạnh phúc vui vẻ trong vinh quang Giáo Hội và hòa bình của Chúa Kitô.”
Cần ghi chú hai điều. “Lệnh truyền” tái hiến dâng này đuợc gởi đến tất cả các giám mục, vì Sắc Lệnh luôn luôn gởi riêng cho các giám mục. Đây rõ ràng là việc, năm 1929, yêu cầu Đức Thánh Cha thi hành liên quan đến hiến dâng nước Nga. Đức Thánh Cha “truyền” cho tất cả các giám mục thế giới kết hợp với ngài trong việc dâng hiến đó. Khi Đức Piô XII nói những ân sủng ngài trông đợi do việc tái hiến dâng này là “vinh quang Giáo Hội” và “hòa bình Chúa Kitô”, người ta nhận thấy cũng giống như những hồng ân Đức Mẹ nói sẽ tuôn tràn đầy do việc Đức Thánh Cha kết hợp với các giám mục khắp thế giới dâng hiến nước Nga. Những hồng ân này là nước Nga trở lại và một thời đại hòa bình cho thế giới.
Đức Thánh Cha Phaolô VI đã thực hiện hai hành động công khai nhiều ý nghĩa, tỏ rõ thái độ tích cực của ngài đối với Fátima, chị Lúcia và việc hiến dâng nước Nga cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria. Ngày 21 tháng Mười Một, 1964, vào cuối khóa họp thứ ba của Công Đồng Vatican (II), trước toàn thể các Giám Mục và Giáo Phụ trong Công Đồng tề tựu tại vương cung thánh đường Thánh Phêrô, Đức Thánh Cha Phaolô VI tuyên xưng Đức Mẹ Maria là Mẹ Giáo Hội và lặp lại lời dâng hiến thế giới và nhắc đặc biệt đến nước Nga cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria ngày 31 tháng Mười, 1942, (của Đức Piô XII) và ngài dẫn chiếu đặc biệt đến Fátima. Thoạt tiên, nhiều người phân vân có lẽ hành động này chưa đủ thỏa mãn điều Đức Mẹ yêu cầu năm 1929, nhưng bây giờ, đại để người ta đồng ý việc hiện diện thụ động của các Giám Mục trong khi chỉ một mình Đức Thánh Cha thực hiện việc dâng hiến không đủ đáp ứng những đòi hỏi Chúa đưa ra về vấn đề này. Các Giám Mục cũng phải kết hợp với Đức Thánh Cha và cùng thi hành việc dâng hiến; các Giám Mục phải tích cực tham gia, mặc dầu các ngài không cần phải đích thân làm việc này tại cùng một địa điểm đồng thời với Đức Thánh Cha.
Ngày 13 tháng Năm, 1967, Đức Phaolô VI đến linh địa Fátima, tham dự lễ kỷ niệm năm mươi năm Đức Mẹ hiện ra. Dịp này, trong nghi lễ cử hành ngoài trời, tại thềm thánh đường trước sự hiện diện của hai triệu người, Đức Thánh Cha đã mời chị Lúcia đứng bên cạnh và cùng với ngài hướng vào đám đông vui mừng hân hoan.
Cũng chính trong dịp này, Đức Thánh Cha (Phaolô VI) ban Huấn Dụ Signum Magnum kêu gọi mọi thành viên của Giáo Hội canh tân việc tận hiến cá nhân cho “Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Thánh Mẫu của Giáo Hội.”
Ba điều nổi bật từ những sự kiện được xem xét trong chương này. Thiên Chúa vẫn trung thành với điều Ngài tìm kiếm qua những lời Đức Mẹ nói ngày 13 tháng Bảy, 1917, và ngày 10 tháng Mười Hai, 1929. Chúa đã thương nói với chị Lúcia về những dấu chỉ tình yêu và lòng thương xót này, và khuyến khích chị thực hiện mọi phương cách để các việc đó được hoàn tất. Chị Lúcia trung thành theo đuổi sứ mệnh Chúa trao phó và đã làm tất cả những gì chị có thể. Sau chót, các Đức Thánh Cha đã không thiếu thiện chí cũng không thiếu can đảm đối với những điều Thiên Chúa tìm ở các ngài. Tuy vậy, không một lần nào trong những lần hiến dâng nước Nga hoặc thế giới và nước Nga thi hành trước đây đã hoàn toàn đáp ứng đúng đòi hỏi Đức Mẹ đưa ra ngày 10 tháng Mười Hai, 1929. Một yếu tố quan trọng vẫn còn bị bỏ sót: các giám mục toàn thế giới tích cực tham gia việc dâng hiến.